Một cuộc đời cực nhọc và ba người đàn bà đức hạnh
VŨ TỪ TRANG
Đấy là năm 1962. Theo thông lệ, buổi sáng thứ hai đầu tuần, cả trường tập trung chào cờ. Sau phút sơ kết công việc dạy và học của toàn trường, thầy hiệu trưởng trịnh trọng cầm tập truyện mới xuất bản - tập "Thông reo" giơ cao cho toàn thể học sinh nom theo. Thầy hiệu trưởng nói: “Các em có biết tác giả tập truyện ngắn "Thông reo" này là ai không? Đó là nhà văn Lê Bầu, người từng là học sinh cũ của trường Hàn Thuyên chúng ta!”. Ánh mắt thầy hiệu trưởng lấp lánh vui và chan chứa tự hào. Trong mấy trăm học sinh chào cờ bữa đó, có Chu Bá Bình (tên thật của Đỗ Chu), có Vũ Công Ứng (tên thật của Anh Vũ), có Dương Thu Hương, có Nguyễn Thanh Kim, Trần Anh Trang... mắt tròn xoe ngưỡng mộ. Ngày đó, được vinh dự là nhà văn, tác giả của tập sách riêng, là coi sự thành đạt lớn lao không gì sánh nổi. Phải chăng xã hội thời đó còn tốt đẹp, con người nhiều khát vọng trong sáng, hay ít ra, là số học trò chúng tôi mê văn chương thuở đó thần thánh hoá vai trò sứ mệnh của các nhà văn nhà thơ. Nên tôi như thấy Lê Bầu là một người sớm thành đạt, đem lại vinh quang cho cả chúng tôi, cánh học trò, dù chỉ học qua một thời gian ngắn ở cùng trường hoặc khác trường Bắc Ninh khi đó.
Thời đó, tôi có đọc thấp thoáng một số truyện ngắn của Lê Bầu in rải rác trên tạp chí Văn Nghệ Quân Đội, báo Văn Học. Mãi sau này, vào những năm đầu thập kỷ bảy mươi, tôi mới có dịp gặp ông ở Hà Nội. Hội văn nghệ Hà Nội khi ấy còn đóng trụ sở tại phố Hàng Dầu, ngay trong cơ quan Sở Văn hoá, Lê Bầu đang là một nhân viên ở đó. Ông đi cái xe đạp cũ càng, ăn vận tuyềnh toàng, dáng người hơi cũ, nom như một lão nông hơn là dáng vẻ nhà văn. Tôi nghĩ, người như thế kia vất vả là phải. Nhưng được cái khi tiếp xúc với ông, ông lại có điệu cười xoà rất thoải mái. Khi ấy, tôi chưa rõ hết nỗi truân chuyên vất vả của con đường văn nghiệp mà ông phải gồng gánh. Chỉ biết ông là một trong mấy người ở Hội vẫn phải lăn ra viết để kiếm sống. Ông viết báo, cộng tác với nhiều tờ báo, mà xem ra lại toàn cộng tác cho các chuyên mục phụ. Nói theo nghề báo chí, thì đó là những mục phụ, chẳng đem lại vinh quang, tiếng tăm gì cho người viết, mà cốt viết để lấy tiền nhuận bút. Mà nhận bút thời đó lại quá còm cõi. Hai đồng. Ba đồng. Hoạ hoằn lắm có báo mới trả năm đồng bạc cho một mẩu tin, một giai thoại văn học, hoặc một câu đố vui, một nụ cười.
Lê Bầu là một người siêng năng làm việc. Ông là người năng nhặt chặt bị, chịu khó cầy cuốc để kiếm cơm. Tờ báo tôi làm khi ấy loè nhoè chẳng có tiếng tăm gì lớn. Đó là tờ báo tuần của một ngành. Ấy vậy, trang cuối bao giờ cũng có một góc nhỏ thư giãn. Đó là câu đố, hoặc nụ cười, hoặc tranh vui, tranh biếm hoạ. Ông Lê Bầu đã cộng tác với báo chúng tôi từ ngày đó, với những mục đó. Rồi báo mở ra những chuyên mục mang tính khảo cứu "Chuyện các làng nghề", "Chuyện các tổ nghề"... Những mục này, bài vở có thể kéo dài trên dưới ngàn chữ. Ông Lê Bầu trở thành cộng tác viên tích cực của chuyên mục chúng tôi làm. Dạo đó ông có cái máy chữ cổ lỗ, tự tay ông mổ cò đánh bài. Giấy đánh bài toàn là giấy tiết kiệm, có khi đã dùng một mặt, hoặc giấy seo thủ công , dầy, mặt nhẵn mặt nhám. Cái máy cũ, chữ nét đậm nét nhạt, dưới góc bài thường ký tên P.H hoặc Phan Hà. Một bữa, tôi đem chuyện ký tên tác giả ra trao đổi cùng ông. Ông nói: "Tớ cũng muốn ký thật tên mình lắm, nhưng các báo nó không in cho". Tôi thầm nghĩ "Vô lý. Ông Lê Bầu này có tội tình gì mà lại chẳng được ký thật tên mình trên bài viết của chính mình? Văn bản nào? hay chỉ là thói quen dị nghị?". Thế là, đến kỳ nộp bài cho Ban biên tập, tôi đã tự tay chữa chữ P. H thành chữ Lê Bầu cho rõ ràng. May cho tôi và cũng may cho ông Lê Bầu, là ông Trưởng ban biên tập của tôi lại là bạn học thuở thiếu sinh quân bên Trung Quốc cùng ông Lê Bầu. Vì thế, việc lấy lại cái tên Lê Bầu, tưởng khó mà lại đâm dễ thế. Nếu tôi không lầm, thì tên tác giả Lê Bầu được ký trở lại dưới bài viết trên báo, là in đầu tiên trên tờ báo "Tiểu công nghiệp, Thủ công nghiệp" mà chúng tôi làm. ấy rồi tên tác giả Lê Bầu dần xuất hiện trở lại trên các báo sau một thời vắng bóng do một ngoại cảnh vớ vẩn nào đó. Sự đời chỉ việc cỏn con thôi, mà ngẫm lại, đôi khi buồn ứa nước mắt.
* *
*
Thực ra, nhà văn Lê Bầu có bị dính líu, can án văn chương thật. Đấy là những năm tình hình văn nghệ ở nước ta đang có làn sóng âm ỉ của "hậu nhân văn". Chẳng biết khi ấy Lê Bầu có tụ tập tuyên ngôn hoặc bình phẩm những gì, có bị theo dõi ra sao, chứ trên các trang viết của Lê Bầu lúc đó là bị xăm soi. Sau cái vui tưng bừng của "Thông reo" vừa được bạn đọc hoan nghênh, Lê Bầu có tập hợp tập truyện mới, trong đó có hai truyện "Con gà quạ tha" và "Hòn đá lang thang" bị cơ quan quản lý văn hoá đánh giá là có vấn đề. Nghi ngờ truyện có sự ám chỉ cái gì đó với cấp trên, nhưng Lê Bầu không được trình bầy, không được giải thích lại. Từ một nhà văn trẻ đang cảm tình Đảng, Lê Bầu bị tống đi thực tế ở các xí nghiệp, nhà máy với hình thức của sự đi cải tạo. Nhà văn trẻ Lê Bầu đang hăm hở viết, đang cười hơ hớ trước cuộc sống, bị cuộc sống quất trở lại, sinh ra hoang mang và buồn chán. Lại những ngày dài lăn lộn ở công trường xí nghiệp, "ba cùng" với các người thợ, trước trang giấy trắng, nhà văn Lê Bầu không dám cầm cây bút viết lên những dòng tâm tư của mình nữa. Mà cũng không chỉ riêng anh, có mấy người bạn anh cũng bị lao lý. ấy là Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Dậu, Vũ Bão... Con mắt nhòm ngó, soi xét của mọi người, làm nhóm bạn bè kia ngại cả gặp gỡ nhau. Không biết có phải là nhát? Hay ngại sự dính líu lằng nhằng? Lê Bầu đã thôi viết văn, mà quay ra viết báo, viết sử sách truyền thống cho một vài cơ quan để lấy tiền tồn tại.
Có một chuyện mà đến nay kể lại, nhiều người không tin, song đó là sự thật, mà nó vẫn ám ảnh ông. Đó là dạo ấy một số người quản lý còn nghi cho ông làm chân tay gián điệp. Họ bố trí để kiểm tra sổ sách, tài liệu, tư trang của anh, bằng cách bắt một nhà thơ cùng cơ quan phải dựng chuyện bố ở Hải Phòng chết, cơ quan cử Lê Bầu cùng về phúng viếng. Khi hai người đáp tàu hoả về Hải Phòng, thì thấy bố của nhà thơ kia vẫn ung dung ngồi uống trà với bạn hữu; nhà văn Lê Bầu liền quay ngay về Hà Nội. Khi ấy, chỗ ở của Lê Bầu đang bị lục xoát lung tung. Ngày đó, quyền tự do của công dân chưa được coi trọng, nhà văn không dám kiện cáo cơ quan xúc phạm đến tự do của mình, mà chỉ dám chỉ mặt nhà thơ kia vốn là bạn mình: "Mày hèn lắm, muốn được cảm tình cấp trên, mà phải dựng chuyện bố chết ?!". Nói xong, Lê Bầu tự thấy ân hận. Nhà thơ kia thì cũng ngớ người ra, đến nỗi rơi vỡ cả cặp kính. Thực ra, nhà thơ kia cũng chỉ là nạn nhân của một thời thế. Xưa các cụ đã nói: Thời thế, thế thời phải thế ! Nhà thơ quê Hải Phòng kia, nay cũng đã khuất núi, mỗi lần nghĩ lại cơ cảnh ấy, nhà văn Lê Bầu lại thêm thương thân mình và thương nhà thơ bạn mình.
Trở lại chuyện in lại tên tác giả Lê Bầu lên báo. Một buổi ông Tổng biên tập báo tôi đi họp giao ban, có nghe nhiều ý kiến dị nghị tại sao in như thế? Ai quyết định cho in?! Tuy nhiên, rồi chuyện đó cũng dần bỏ vào lãng quên và có lẽ xu hướng xã hội đã khác. Sự cởi mở, đổi mới đã le lói. Tiếp đó, tôi có đề nghị in thơ của nhà thơ nữ Trương Thị Kim Dung lên trang thơ báo tôi làm. Trương Thị Kim Dung, cô gái vùng Kinh Bắc, có mẹ lao động tần tảo bên lò vôi Đáp Cầu, vốn là sinh viên tổng hợp văn, đã từng có những bài thơ đắm say in trên nhiều báo chí. Bẵng một dạo dài, Dung không được báo nào dùng thơ nữa, vì đời sống Dung có một trắc trở. Tôi thấy, đó là điều bất hợp lý. Có văn bản kỷ luật nào cấm in thơ Trương Thị Kim Dũng đâu? Tôi thấy thơ Dung hay, và mạnh dạn đề xuất với Ban biên tập. Ban biên tập đồng ý in. Thế rồi từ đó, lác đác các báo lại in thơ của Dung. Bây giờ, Trương Thị Kim Dung là một cây bút vững vàng của báo Phụ nữ Thủ đô, là hội viên Hội nhà văn VN. Thi thoảng, nghĩ lại chuyện này, tôi thấy cuộc sống vốn vô cùng phức tạp, vô cùng vô lý. Bị vướng mắc như thế, nếu nhà văn không có lòng tin ở chính mình, hẳn đã bị ngã gục, không còn đủ sức mạnh để cầm bút, hành trình tiếp trên con đường sáng tạo.
Bị can gián, bị "tai nạn nghề nghiệp", mà hoàn cảnh gia đình ông lại quá ngặt nghèo, Lê Bầu đã phải lao vào viết kiếm sống là phải. Bạn bè ví ông như cái đầu tàu cũ nát vẫn phải cố phì phì vận hành, để kéo theo mười mấy toa tầu đói khát. Mười mấy cái toa tầu há mồm ở Bắc Giang, tháng tháng vẫn chờ sự tiếp tế của nhà văn. Mà nhà văn chỉ biết viết báo, viết mẩu chuyện cười in góc trang báo, kiếm dăm bảy đồng nhuận bút còm cõi. Cái đầu tàu này xem ra sớm tàn tạ về thể xác. Giá ông không dính vào nghi án văn chương, giá ông không phải lo cứu đói cho mười mấy toa tầu kia, thì chắc hẳn ông đã viết được nhiều trang văn hay hơn, thấm đẫm lòng người hơn. Vì ngoài ba mươi tuổi, ông đã có "Thông reo" cơ mà !
* *
*
Sau đận ở tá túc tại đền Ngọc Sơn, Lê Bầu được cơ quan phân cho căn phòng 105 Phùng Hưng. Có thể coi là sự đổi đời với ông, mặc dù căn phòng nhỏ lại được chia đôi bằng vách cót che chắn ! Người ở nửa phòng còn lại mà chung vách liếp với Lê Bầu, là nhà thơ Huyền Tâm, có bài "Thóc lép qua cầu gió bay..." được phổ nhạc rất hay. Cả hai ông đều sống độc thân. Ông Huyền Tâm ít nói, còn ông Lê Bầu trời phú cho cái tính bô lô bô la, như để che lấp sự cô đơn của mình. Ông Huyền Tâm thì thường nằm phủ phục ra chiếu mà viết ca dao. Còn ông Lê Bầu thì có "tân thời" hơn, ông dùng cái máy chữ cũ xin được của ai, đem về mổ cò viết văn. Ông Lê Bầu có kê cái bàn nhỏ gỗ tạp ở ngay sát cửa sổ. Cái máy chữ cổ lỗ ông đặt ở đấy, để hành nghề. Bạn bè qua phố nom thấy ông lụi hụi mổ cò, là lại sà vào chơi. Tiện đường, cũng là cái khổ vì phải tiếp khách liên miên tối ngày. Ông là người tốt tính, sởi lởi, vì vậy bất kể thân hoặc sơ, ai cũng hay ghé vào tào lao góp đôi ba câu chuyện, hoặc làm chén nước chè nhạt. Tôi thấy ái ngại cho ông, vì ông bị chia vụn thời gian quá thể. Có khi vừa ngồi gõ máy chữ chưa đủ dòng, lại có ông bạn vào chơi. Căn phòng chật, có lúc năm bảy người bạn kéo vào, ngồi kín cả cái chiếu cũ trải nền nhà tiếp khách. Ông tốt tính cứ cười cười thôi, chứ tôi hiểu ruột gan ông đang sôi lên vì chưa kịp bài để nộp báo. Chưa có bài cho báo, là không có tiền tiêu. Cái đời sống cơm áo gạo tiền cứ thúc đít ông, thôi thì chống đói trước mắt hơn là lo cái vĩ đại cao sang bất tử?! Tôi đã chứng kiến cảnh ông vừa bắc bếp nấu cơm, vừa mổ cò máy chữ. Cơm là chính, thức ăn là phụ. Mà thức ăn thường là lạc rang mặn, hoặc nồi thịt kho lẫn dừa cùi. Rau đại đa là bí xanh, bí đỏ và mướp. Một lần tôi đến thăm ông, trùng phùng đúng lúc ông đang chuẩn bị bữa cơm của mình. Ông lúi cúi trông nồi cơm bé bằng cái bát canh đặt trên bếp dầu xó nhà, một tay đang gọt vỏ bí xanh, mắt thì đang dán vào trang sách chữ Trung Quốc. Thì ra vừa nấu cơm, ông vừa tranh thủ đọc sách. Tôi buột miệng hỏi:
- Bác nghiện bí xanh hay sao, mà bữa nào em cũng thấy bác dùng món này?
Ông trả lời:
- Đâu phải. Nhiều bữa ớn đến tận cổ. Nhưng vẫn dùng nó, vì bí xanh rửa tốn ít nước. Thèm món rau muống luộc lắm. Nhưng rửa mớ rau muống là phải tốn ít ra là một xô nước. Cậu biết không, một vài xô nước sạch, ở đây là quý lắm.
Chả là nơi ông ở rất hiếm nước dùng. Đã vậy, vòi nước chung ở mãi sân nhà trong, muốn lấy nước hoặc đi vệ sinh lại phải vòng vào tít ngõ sâu, mỗi lần đi lại phải cửa khoá cửa mở đến là lách cách.
Tới dạo cháy chợ Đồng Xuân, cơ may lại đến với ông. Chả là chợ tạm họp ở trước cửa nhà ông. Chủ các cửa hàng thuê nhà ông để biến thành kho hàng vải. Tháng tháng họ trả tiền thuê nhà, ông lại dành dụm gói ghém chờ dịp về Bắc Giang tiếp tế cho mấy mẹ con trên ấy. Cái bàn đặt máy chữ được dọn tít vào góc trong, cái chiếu tiếp khách được cuốn lên để xếp vải. Thôi thì đủ loại vải len dạ, vải tơ tằm đẹp và mốt, như vây bọc lấy ông. Nhưng nhà văn Lê Bầu vẫn lếch thếch bộ quần áo ngủ màu gụ đã bạc thếch, ngồi lọ mọ gõ máy chữ ở cuối phòng. Những người thuê gửi hàng tại nhà ông, họ quá yên tâm, dù hàng ngổn ngang, mà chẳng thất thoát mảy may tẹo nào.
Có tiền thuê nhà, đỡ một phần viết báo kiếm cơm, nhà văn Lê Bầu dành thời gian ra tấm ra món để dịch sách, để viết văn. Ông dịch "Ô sin", dịch "Tể tướng lưng gù", "Thị trấn phù dung", dịch "Cổ án Trung Hoa", dịch "Hoài niệm sói", "Quỷ thành"... rồi dịch tản văn của Giả Bình Ao. Nói tới mảng văn học Trung Quốc thời gian qua, là phải nói tới sự đóng góp của Lê Bầu.
Ông đã cho ra đời mấy tập truyện. "Những năm tháng trôi qua"; "Hai người buồng bên kia" và tiểu thuyết "Ngã ba cô đơn". Hình như sự cô đơn thấm trong người ông, ông muốn dấu, nhưng có lúc vẫn lộ ra. Tôi đã vô tình chứng kiến cảnh ông một mình ngồi xếp bằng tròn trên tấm chiếu cũ, hút vã thuốc lá. Đấy là cái phút cô liêu thoáng trên khuôn mặt hay cười của ông. Có thể ông nghĩ về vợ con ở Bắc Giang trên kia, hoặc nghĩ về sự thăng trầm gì đó của đời mình. Văn chương chưa phải đã đem lại vinh quang lớn lao gì cho ông. Ông thấy đó là cái nghiệp của đời mình. Sách sáng tác, sách dịch đã gần hai chục đầu sách sách rồi đấy, nhưng hình như ông vẫn cảm thấy sự chơi vơi, thăm thẳm xa xôi... Ông muốn viết một cái gì hơn nữa những cái ông đã viết. Ông viết và ông lại không bằng lòng với chính mình. Bạn bè thân từ thuở lâm nạn chữ nghĩa, nay vẫn thường gặp gỡ nhau. Ông Bùi Ngọc Tấn, sau "Chuyện kể năm 2000", đã có "Rừng xưa xanh lá". Nguyễn Xuân Khánh có "Hồ Quý Ly". Mình phải làm gì? Ông suy nghĩ và dằn vặt.
Con đường từ Hà Nội lên Bắc Giang không phải là xa. Nhưng cũng đôi ba tháng ông mới trở về thăm nếp nhà nhỏ ở xóm Thùng Đấu ven thị ấy được. Mười mấy toa tầu kéo theo, nay đã có phần đỡ gánh, ấy vậy, nó vẫn níu buộc ông. Có lần vô tình tôi buột miệng hỏi ông: "Sao không chuyển gia đình về Hà Nội sinh sống, cho ông đỡ phần vất vả?". Ông buồn bã trả lời "Về làm sao được. Về sống ra sao? Thôi số mình nó thế !". Tôi ân hận vì chạm vào sự cô liêu của ông. Cuộc sống mỗi người một số phận. Đã mấy chục năm nay ông quen sống một mình. Một người đàn ông lọ mọ sống một mình. Ông không có vui thú đùm đúm quán xá bia bọt, không lăng nhăng trăng gió. Cũng có thể ông có thích, song phải ghìm lại những ý thích đó. Vì đời sống của ông còn lắm nỗi chật vật. Cũng có một vài người phụ nữ mà tôi đã gặp ở nhà ông, nom họ hiền thục lắm, thương cảm cảnh sống độc thân của ông, họ tới khâu cho ông miếng vá ở vai áo, ống quần, hoặc tiện qua chợ ghé mua dùm ông mớ rau, lạng thịt. ấy cũng chỉ là quý nhau thế thôi. Họ đi rồi, ông lại đơn độc còng lưng bên cái máy chữ, ông chỉ có niềm vui làm việc. Làm việc, để lấp đậy sự cô đơn của chính mình.
Câu chuyện về nhà văn Lê Bầu tưởng như đã khép lại. Tôi không nghĩ ông lại ra đi quá nhanh vậy. Khi phát hiện bạo bệnh , thì căn bệnh của ông đã vào giai đoạn cuối. Ông bị ung thư tủy. Tủy hỏng, phá hỏng máu rất nhanh. Vậy làm sao sống được, hỡi nhà văn cần mẫn một đời?! Tạo hóa lại bắt ông chịu đựng thử thách cho đến phút chót. Nói theo cách nói văn hoa, là “dù đã được gia đình và các bác sỹ tận tình cứu chữa, nhưng bệnh trọng, nên ông đã ra đi”. Ông mất ngày mười ba tháng giêng năm 2009, hưởng thọ bảy mươi tám tuổi. Theo nguyện vọng của gia đình, mong được mai táng ông tại quê Bắc Giang, vào ngày rằm tháng giêng. Nhưng ngặt nỗi ngày rằm là Ngày Thơ Việt Nam, nên Hội Nhà Văn Việt Nam đành để sáng ngày mười sáu tổ chức tang lễ cho ông tại nhà tang lễ Bệnh viện Thanh Nhàn (Hà Nội), rồi chuyển cữu ông về quê.
Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, nhà thơ Hoàng Việt Hằng và tôi theo xe đưa ông về mai táng tại quê ông. Đấy là xóm Thùng Đấu, thành phố Bắc Giang. Chúng tôi gặp bà quả phụ của nhà văn Lê Bầu. Ấy là người đàn bà giản dị, phúc hậu, còn đậm nét người phụ nữ nông thôn. Có lẽ bà hơn ông hai tuổi. Theo tập tục lấy vợ gả chồng ở nông thôn ngày trước, là chọn tuổi “gái hơn hai, trai hơn một” . Bà vận áo cánh gụ, quần đen, khoác ngoài áo xô trắng, chít khăn trắng để tang chồng. Căn nhà cấp bốn thưở nào, mới được xây lại tươm tất. Bà dọn gian nhà chính giữa, đàng hoàng nhất, trang trọng nhất để rước ông về thờ cúng. Theo tập tục vùng quê Bắc Giang, cũng như nhiều quê khác, người chết ngoài nhà thì không đưa xác vào nhà thờ cúng, vì sợ trùng tang và xúi cho con cháu sau này. Vậy mà bà đã quyết sửa sang gian nhà trang trọng nhất để đưa linh cữu ông về thờ cúng, lo tang. Bà khóc giàn giụa, nom miệng như cười mếu. Có lẽ bà mãn nguyện vì được lo tang cho ông. “Ông nhà tôi vất vả cả đời . Thôi thì thế nào cũng xin các ông các bà cho mẹ con tôi được rước ông nhà tôi vào nhà. Xin để ông nhà tôi được ngủ thêm một đêm trong căn nhà này, rồi hôm sau hãy đưa ông ra đồng !”
Sinh thời, ông đã lao động hết mình với con chữ, để nuôi vợ nuôi con. Có lẽ chưa bao giờ ông ngồi đọc cho bà nghe một trang văn mình viết. Vả lại, tâm trí bà cũng chả hiểu ông viết về cái gì, viết để làm gì; ngoài ý nghĩ giản dị là ông viết văn lấy tiền nuôi vợ con. Vì thế, bà cũng chỉ có niềm hạnh phúc giản dị của người phụ nữ nông thôn, là đi làm vợ, để đẻ một đàn con cho chồng và sống được lo tang cho chồng. Tập tục quê bà, người chết được ở nhà thêm một đêm cuối, được làm lễ quay cữu vào lúc nửa đêm, thì linh hồn mới thanh thản về với trời. Mọi người khuyên gàn bà không để linh cữu chồng bà thêm đêm nữa. Làm như thế trái quy định của phường xóm về vệ sinh ma chay. Bà chấp tay cúi lạy mọi người, nếu không được để ông qua đêm, thì xin để qua giờ ngọ, để làm lễ quay cữu cho ông, coi như ông đã được ngủ ở nhà thêm một đêm nữa rồi. Tấm lòng mộc mạc và giản dị của người vợ dành cho người chồng, làm chúng tôi cảm động ứa nước mắt.
Cũng trong đám tang, chúng tôi được thấy một người phụ nữ tóc bạc, nhỏ thó, tuổi ngoại bảy mươi, xăn xắn chạy chỗ này chỗ kia lo công việc. Xem ra , mỗi việc làm của bà đều được những người con gái của nhà văn Lê Bầu răm rắp làm theo. Sau phút làm lễ quay cữu vào lúc giữa ngọ, bà lại xăn xắn cùng người con gái nhà văn Lê Bầu mang hương và đồ lễ lên chùa gần đó, để làm lễ cầu siêu cho nhà văn. Những ngày ông nằm trong bệnh viện, bà xăn xắn chạy đi chạy lại lo cho ông. Lúc lấy kết quả xét nghiệm, lúc đấy xe đưa ông đi tiêm, đi chụp chiếu. Khi ông nằm ngủ mê man, bà lặng lẽ giở chiếc giường gập nhỏ bé nằm bên cạnh. Bà chăm cho ông một phút cựa mình, một tiếng ho, hoặc đổ bô, hoặc thay đồ cho ông. Có bà, các con ông như cũng được yên tâm bao phần. Hỏi chuyện, mới vỡ lẽ, nhà bà tận dưới thành phố Hải Phòng. Cứ cách ngày, bà lại lặng lẽ đi ô-tô khách lên Hà Nội chăm ông. Gia đình bà dưới đó cũng khá giả, con cháu thành đạt và đã yên bề gia thất. Biết nhà văn Lê Bầu trọng bệnh không qua khỏi, những ngày cuối của ông, bà càng muốn dành hết cả tâm sức để chăm nom ông. Mãi rồi tôi mới biết, bà biết ông và quý trọng ông cũng vì đọc văn của ông. Có thể với người đọc khác, văn chương của ông chưa phải đỉnh cao chói lọi gì, nhưng với bà, qua các trang văn của ông, đã khơi gợi bao cảm xúc thiêng liêng lạ kỳ cho bà. Văn chương, tưởng như thứ vô tích sự, như một thứ nghề kiếm sống, nhưng không hiểu sao, qua các trang sách của ông viết ra dịch ra, đã đem lại cho bà niềm an ủi và bà nhận ra một tấm lòng chân tình trong đó. Bà quý ông và chăm sóc ông, cũng từ những nguyên do đó. Chính vậy, những ngày ông ốm nặng và ngặt nghèo nhất, ông đã được hưởng niềm thương cảm và chăm sóc chân tình của người đàn bà vốn là người bạn đọc của chính mình.
Còn một người đàn bà khác, mà cũng có liên quan đặc biệt tới cuộc đời của nhà văn Lê Bầu, ấy là một nữ họa sỹ. Mấy chục năm về trước, khi tôi còn làm biên tập ở một tờ báo (như đã viết ở phần đầu bài viết) tôi đã từng được tiếp xúc với người nữ họa sỹ này. Dĩ nhiên, khi ấy nhà văn Lê Bầu còn trẻ, nữ họa sỹ còn trẻ. Tôi đã đôi lần loáng thoáng được ngồi nghe họ bàn về vẻ đẹp của bức tranh này hoặc sự sâu sắc trong cuốn sách nọ. Có lần, tôi thấy chị ngồi tẩn mẩn khâu lại gấu quần đã rách của anh, hoặc đơm lại chiếc cúc vừa đứt ở tấm áo anh vừa mặc. Có buổi chị đi chợ mua cho anh mớ rau, con cá, mấy quả trứng. Anh thì ngồi chăm chú mổ cò máy chữ, dịch sách. Chị cặm cụi bắc bếp vo gạo, nấu canh. Cơm chín, chị lại vội vã đạp xe về lo cơm nước gia đình nhà chị. Tình cảm bình dị ấy đã kéo dài suốt mấy chục năm, từ khi họ còn là “thời trai trẻ”, cho mãi tới khi đã thành tuổi ông bà. Có lẽ người nữ họa sỹ kia, cuộc sống riêng tư có nhiều uẩn khúc, chị đã đồng cảm cảnh sống độc thân của nhà văn, nên họ đã dành sự quan tâm cho nhà văn như vậy. Quan hệ của họ, hình như cũng chỉ dừng ở chừng mực như vậy thôi. Không có gì quá đà, quá giới hạn. Ấy vậy, mà rất bền bỉ và sâu lắng. Đã đôi lần, ông đưa những sáng tác mới của mình cho người nữ họa sỹ kia đọc. Rồi người nữ họa sỹ kia nêu những nhận xét, góp ý theo lối cảm lối nghĩ của mình. Ông đã nghe và lặng lẽ ngồi viết, ngồi sửa lại theo lời góp ý chân tình ấy. Những ngày nhà văn nằm điều trị ở bệnh viện, người nữ họa sỹ kia cũng phải đi điều trị bệnh. Bà mắc chứng suy tim. Mọi người thân của ông quá biết mối quan hệ trong sáng kia của ông, vì muốn không để bà phân tâm, nên chưa muốn cho bà biết ông đang trọng bệnh. Cho tới một bữa, bà biết tin ông năm cấp cứu ở bệnh viện, mặc đang bệnh tim nặng, bà thuê xe ào tới thăm ông. Bà yếu, mà chạy băng băng cầu thang bộ, không kịp đợi chờ cầu thang máy. Bà đẩy cửa phòng, lao vào ôm chầm lấy ông, trong khi ông đang nằm mê man bất tỉnh. Các dây gen truyền máu, truyền đạm vẫn đang chằng chịt quanh người ông. Sự xuất hiện đột ngột của bà, làm người nhà và bác sỹ đang túc trực bên ông hoảng hốt không kịp trở tay. Một bác sỹ trẻ bữa đó phải đứng dậy, gạt phắt bà ra ngoài, như gạt một người bị thần kinh. Nếu không nhanh tay, sợ bà ôm xốc ông, làm đứt dây gen đang truyền máu kia, thì tính mạng ông không lường nổi. Khi bị gạt ra, bà càng khóc lóc thảm thiết “Anh Lê Bầu ơi, sao bệnh tình anh đến mức này? Sao anh dấu em mãi đến giờ? Anh Bầu ơi, có phải em thương anh hơn bất cứ ai trên đời này không?..”. Một nhà văn bạn thân của ông đã phải dìu bà ra phòng ngoài, sợ ở đó, cơn đau tim của bà lại đột phát, thì nguy hiểm. Mấy bác sỹ trực trong khoa, khi được nghe kể đầu đuôi ngọn ngành về cuộc đời và các mối quan hệ của ông Lê Bầu, thì họ nể ông vô cùng. Họ không bình luận, mà chỉ nói rằng ông là người hạnh phúc. Rõ ràng ông đã sống tốt thế nào với mọi người, thì mới được hưởng những tình cảm cao đẹp như thế.
Trong chuyến xe về Hà Nội bữa đó, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh, người bạn chí cốt của nhà văn Lê Bầu, cùng mấy anh em chúng tôi chỉ nhắc chuyện về ông. Nhà thơ nữ, tuổi đã trung niên, phải kêu lên: “Em chịu không hiểu nổi chuyện của các cụ !”. Vâng, nhà văn Lê Bầu sinh thời đã sống như thế nào thì khi ốm đau và phút lâm chung mới được hưởng tình cảm nồng đượm như thế. Tôi khẳng định rằng, nhà văn Lê Bầu đã sống , đã xứng đáng được hưởng những tình cảm chân thành và cao đẹp mà những người thân đã dành cho ông như thế. Vậy ông là người thật hạnh phúc. Vậy mà trước kia, tôi cũng như nhiều anh em khác quý ông, vẫn tưởng ông sống trong sự cô đơn, nhiều thiệt thòi, thiếu thốn tình cảm. Chuyện ba người đàn bà từng gắn bó và ảnh hưởng tới đời sống sáng tạo của nhà văn Lê Bầu, nó như một vĩ thanh đẹp về ông, dành cho ông. Chỉ e, cuộc sống thực dụng bây giờ lấn lướt, biết mấy ai hiểu đúng gía trị câu chuyện này? Phải, có thể nhà thơ nữ kia nói đúng, chịu chuyện của các cụ! Liệu thế hệ trẻ có cho là chuyện vớ vẩn, xa lạ không?
| Thảo luận(0) |
Những bài mới nhất
Dấu chân trên đại lộ đầy chông gai
NGUYỄN MỸ không chỉ có Cuộc Chia Ly Màu Đỏ

