LỤC BÁT NGÀN NĂM mang vẻ đẹp sử thi
ĐẶNG KIM THANH
Có lẽ trong kho tàng thơ ca dân tộc, lục bát là một trong những thể thơ thân thuộc gần gũi với chúng ta nhất. Vậy mà khi đọc bài thơ Lục bát ngàn năm của nhà thơ Trần Thế Tuyển ta lại thấy có nhiều điểm lạ. Cái lạ bắt đầu từ tựa đề Lục bát ngàn năm. Sao lại lục bát ngàn năm? Nếu ngàn năm là để nói về sự kiện Kỷ niệm ngàn năm Thăng Long – Hà Nội thì sẽ lí giải như thế nào về việc chọn lục bát trong kết hợp Lục bát ngàn năm… Bạn cũng sẽ tự hỏi: Có gì mâu thuẫn khi sử dụng một thể thơ dân tộc rất mềm mại, uyển chuyển để diễn tả không khí của một thời kì lịch sử độc nhất vô nhj! Có gì lạ trong cặp lục bát: “Một ngàn năm vẫn còn trinh. Câu thơ lục bát, trúc xinh bên đình”? Nhưng, hãy đọc bài thơ và tưởng tượng đi, bạn sẽ có chìa khoá giải mã:
LỤC BÁT NGÀN NĂM
Một ngàn năm bấy nhiêu ngày
Câu thơ lục bát vẫn say hồn người.
Nghe trong thơ có tiếng cười
Cái đêm gió núi thúc thôi ngựa hồng.
Nghe trong thơ có tiếng cồng
Chiếu vua ban cả núi sông chuyển mình.
Một ngàn năm vẫn còn trinh
Câu thơ lục bát, trúc xinh bên đình.
Để Rồng bay đất kinh thành
Gieo bao truyền thuyết sử xanh cõi bờ.
Để ngàn năm những câu thơ
Sáu nhịp ước, tám nhịp mơ yên bình.
Để ngàn năm những mối tình
Hoàng bào trao gửi, phú vinh chia đều.
Một ngàn năm chẳng bao nhiêu
Bao nhiêu huyền thoại, bấy nhiêu nỗi lòng.
Nhà thơ đã mở đầu bằng giọng thơ ngọt ngào nhưng hàm chứa ý khẳng định mạnh: "Một ngàn năm bấy nhiêu ngày
Câu thơ lục bát vẫn say hồn người". Câu thơ lục bát là tiếng lòng bồi hồi, đau đáu, thiết tha về ngàn năm. Có lẽ tâm sự bồi hồi, đau đáu, thiết tha lại chính là chất SAY HỒN NGƯỜI mà ta sẽ cảm nhận được trong dòng cảm xúc : Đọc, suy ngẫm, và tưởng tượng…
Cả một không gian huyền thoại sẽ xuất hiện nhờ 8 cặp lục bát trong bài thơ. Đó không còn là ngôn từ cụ thể mà biến thành những câu chuyện kể đậm đà màu sắc truyền thuyết của dân tộc, của Thăng Long ngàn năm văn hiến. Có lẽ chất tự sự trữ tình vốn có trong thể lục bát và cái tình của nhà thơ hoà tan vào Lục bát ngàn năm đã khiến sự thực lịch sử có thêm chất huyền thoại. Ta như có cảm tưởng hư hư thực thực khi đọc bài thơ.
Lấy lục bát làm nền để nói về những biến động mang tầm sử thi của dòng lịch sử hàng ngàn năm, tác giả hình như hơi mạo hiểm. Nếu chỉ non tay một chút, bài thơ sẽ thuần chất trữ tình mang âm hưởng dân gian thuần tuý, … Nhưng lạ thay, Lục bát ngàn năm đã vượt qua điều ấy. Vẻ đẹp của những câu lục bát và cảm hứng sử thi được bộc lộ qua đề tài (tựa đề), không khí, cấu trúc, ngôn từ, … mà đặc biệt là giọng thơ – giọng của người trong cuộc.
Cái hay của nhà thơ là đã kết hợp khá tài hoa sự duyên dáng, trữ tình, tinh nghịch của lục bát với nét hào hùng của những sự kiện mang tầm vóc quốc gia: "Nghe trong thơ có tiếng cười. Cái đêm gió núi thúc thôi ngựa hồng. Nghe trong thơ có tiếng cồng. Chiếu vua ban cả núi sông chuyển mình"
“Nghe trong thơ” được nói thật thiêt tha và cả “tiếng cười, tiếng cồng”… nữa cũng làm ta xao xuyến. Sự kiện vua Lý Công Uẩn viết Chiếu dời đô và đặc biệt việc dời đô mang tầm vóc quốc gia đã được các sử gia nói đến bằng những pho sử. Nhưng với nhà thơ, chỉ bằng cặp câu lục bát 14 chữ mà ta như vẫn thấy hình ảnh của đất nước năm 1010 đang dậy lên tiếng chiếu vua ban và núi sông chuyển mình vào vận hội mới… Phải chăng, đó là nét riêng trong cách thể hiện giữa lịch sử và thơ ca?
Chẳng biết có phải chất lửa và tình cảm nồng nàn của người lính phóng viên chiến trường năm xưa đã mách bảo nhà thơ không mà hào khí Thăng Long và sức sống của dân tộc Việt được vang lên từ hình ảnh, tiết tấu của các cặp lục bát lại thắm thiết chất trữ tình làm ta bồi hồi xúc cảm…
Đặc biệt từ cặp lục bát thư 5, mạch thơ dồn dập hơn, những thông tin nghệ thuật đầy ắp sự kiện trọng đại như những dấu son đáng tự hào. Hình ảnh Rồng bay đất Kinh thành xuất hiện mở ra một trang mới trong lịch sử dựng nước, khẳng định tài đức, trí dũng của bậc minh quân: "Để Rồng bay đất kinh thành. Gieo bao truyền thuyết sử xanh cõi bờ"
Những câu thơ lắng đọng vẻ đẹp của lịch sử với bao truyền thuyết đẫm lệ nhân tình như dẫn ta vào không gian huyền thoại của Thăng Long Đông Đô - Hà Nội … Hãy tưởng tượng và suy ngẫm… Ông cha ta và cả chúng ta nữa đã sống và làm nên lịch sử với khát vọng: "Để ngàn năm những câu thơ. Sáu nhịp ước, tám nhịp mơ yên bình. Để ngàn năm những mối tình. Hoàng bào trao gửi, phú vinh chia đều"
Ta như cảm được tiết tấu âm nhạc từ những vần thơ lục bát nhỏ xinh, đằm ngọt chất dân ca. Tác giả cũng thật tinh tế khi giao hoà vẻ đẹp của nghệ thuật thơ lục bát với vẻ đẹp giàu tính nhân văn… Công chúa Lý Chiêu Hoàng, vị vua cuối cùng của triều đình nhà Lý, nguồn đề tài và cảm hứng của bao nghệ sĩ, sử gia cũng hiện lên thật giản dj mà giàu sức gợi, neo vào tim ta một dấu lặng dài…
Lục bát ngàn năm khép lại với hai câu thơ quen mà lạ, tưởng chừng đơn giản mà chẳng giản đơn: "Một ngàn năm chẳng bao nhiêu. Bao nhiêu huyền thoại, bấy nhiêu nỗi lòng". Nhà thơ muốn gửi thông điệp nào đây? … Hay đó là NỖI LÒNG được cảm nhận từ bao nhiêu huyền thoại của ngàn năm ấy… Bất giác, linh cảm mách bảo ta đọc lại bài thơ…nhiều lần… Và khi ta cảm thấy mình hoà vào mạch cảm xúc thơ…, đang sống với những thăng trầm của ngàn năm Thăng Long Hà Nội… thì bỗng một điều kì diệu đến. Ta đang đi trong khu rừng đẹp như cổ tích, non xanh nước biếc ngào ngạt hương hoa ngọc lan… Phía xa, vua Lý Công Uẩn , Lý Chiêu Hoàng, Trần Thủ Độ, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi, Nguyễn Thj Lộ và rất nhiều giai nhân, tài tử, khoan thai đàm đạo và… mỉm cười với ta. Riêng thi hào Nguyễn Du đăm chiêu đưa cho ta một bức hoa tiên nhỏ và khi ta quá bối rối chưa biết nói chi thì tiếng chuông điên thoại di động reo!...Ta giật mình nhận ra mình ngủ gục trước màn hình máy tính… Bài viết vẫn dở dang… Định thần lại, ta bỗng ngộ ra hình như mình đã quá say cái hào hùng của lịch sử ngàn năm mà quên rằng: ngàn năm và khoảnh khắc, huyền thoại và nỗi lòng, vinh quang và cay đắng, nghĩa vụ quốc gia và hạnh phúc cá nhân… luôn là ẩn số, cội nguồn bi kịch nhân loại.
Nhà thơ là ai nếu chẳng trải lòng mình cảm thông cùng bao nỗi niềm ẩn chìm dưới bóng dáng kì vĩ của Chiến công, Quyền lực, sự hưng vong của một triều đai, một dân tộc. Hào quang của Vòng Nguyệt quế… nhiều khi phả trả giá bằng biết bao đau đớn của con người. Những số phận như Lý Chiêu Hoàng, Nguyễn Thj Lô, Nguyễn Trãi và cả Nguyễn Du …vẫn luôn là mạch nguồn cảm hứng, là nỗi đau nhân tình của thi nhân đọng trong tiếng lục bát ngàn năm… Những điều khối óc và trái tim muốn nói cùng nhau, nhà thơ đã thể hiện bằng sự tinh tế, đắm say. Lịch sử ngàn năm Thăng Long – Hà Nội với những sự kiện đặc thù, những nét ca dao chân chất, tinh khôi, những nhân vật lịch sử đậm màu huyền thoại đã được lục bát chắp cánh… Có lẽ phải yêu Hà Nội và yêu những câu lục bát say đắm vô cùng, nhà thơ mới chọn Lục bát để gửi hồn thơ… Và Lục bát ngàn năm đã uyển chuyển hoà quyện Vẻ đẹp của Lục bát cùng Chất sử thi vào nguồn mạch cảm xúc của những câu thơ lục bát say lòng người…
| Thảo luận(2) |
Những bài mới nhất
CÁT DU một gương mặt thơ miền Đông Nam bộ
TRẦN THẾ TUYỂN chút tình gửi ngàn năm 


Khổ thơ thứ 7 : Để ngàn năm những mối tình .
Hoàng Bào trao gởi, phú vinh chia đều .
Tôi thấy PHÚ ( giầu có , phú quý...) VINH ( vinh quang, hiển vinh...) hai từi Phú,Vinh này đều mô tả ý nghĩa vui sướng, sung sướng .
Một người đàn bà từng trải như Thái hậu Dương Văn Nga khi nghĩ tới và cho đến khi thực sự đem Hoàng Bào của chồng là Đinh tiên Hoàng khoác lên người Thập đạo tướng quân Lê Hoàn . Nghĩa là đêm quyền lực nhà Đinh trao cho họ Lê triều đại tiền Lê). Lịch sử ghi rất rõ : lúc đó Đinh tiên Hoàng đế mới băng hà được 1 năm .
" Tôi trung không thờ 2 chúa . Gái tiết trinh không lấy 2 chồng " Bài học vay mượn này đã trở thành đạo lý truyền thống và hình như vẫn còn nguyên vẹn giá trị đến tận ngày nay. Đạo lý này chắc chắn Dương văn Nga đã học thuộc từ thưở " Vỡ lòng" . Dương văn Nga có yêu Lê Hoàn không ? Yêu thì yêu từ bao giờ . thôi thì cứ để cho hậu thế phán xét. Nhưng chắc chắn : Dù Dương văn Nga có yêu Lê Hoàn thật thì dù chỉ mới nghĩ tới việc lấy Hoàng Bào của chồng trao cho người khác họ Dương Văn Nga đã biết mình phạm 2 tội : Bất Trung . Thất Tiết . Đều là tội chết . Đó là nỗi đau - nỗi nhục . nỗi nhục Lịch sử ! Khi mang nỗi nhục này Dương văn Nga đâu chỉ ngậm đắng nút cay. Phụ nữ nào chẳng muốn có người chia xẻ nỗi đau- nỗi nhục này , và người đầu tiên không ai khác chắc phải là người chồng mới của mình .
Còn Vinh ư ? Vâng . Nếu chàng dựng được một triều đại mới vững vàng thì sự Vinh quang ấy chàng - bệ hạ - cũng đừng quên thiếp .
Gần 250 năm sau Vị Vua cuối cùng của triều đại Nhà Lý là Lý chiêu Hoàng cũng cởi Hoàng bào trao cho chồng là Trần Cảnh . Một hành động xóa sổ quyền lực Nhà Lý , đem quyền lực ấy trao cho họ Trần - Nhà Trần .
Dưới quyền lực thực sự của Thái sư Trần thủ Độ thì hành động của " Cô bé" 7,8 tuổi Lý chiêu Hoàng này là " nhường" hay " bị" hay" phải" ??? . Dù thế nào chăng nữa thì cô bé 7,8 tuổi Lý chiêu Hoàng cũng đã "được" hay " bị" Lịch sử đặt lên vai " gánh nhục lịch sử" mà Dương văn Nga đã gánh trước kia . Và ít nhiều thì " cô bé" 7,6 tuổi này cũng mong muốn được anh chồng bé con chia xẻ với mình nỗi nhục cũng như nỗi vinh sau này nếu có .
Vậy. muốn miêu tả đầy đủ tâm trạng của 2 Nữ Vương này , Khổ thơ thứ 7 nên chăng viết là :
Để ngàn năm những mối tình .
Hoàng Bào trao gởi, NHUC VINH chia đều .
Nhà Thơ đã thể hiện tài năng khi dùng những từ ngữ thuần Việt đặt vào trong thể loại thơ Lục-Bát -một thể loại thơ THUẦN VIỆT . ( Những từ như : Hoàng Bào,huyền thoại,sử xanh tuy không thuần Việt nhưng đã rất phổ thông từ lâu )
Từ ngữ thuần Việt được diễn tả trong một thể thơ Thuần Việt và chỉ bằng 8 khổ thơ mà tác giả đã gợi cho người đọc nhớ tới bao diễn biến của ngàn năm Sử Việt nhất là 2 câu :
Để ngàn năm những mối tình.
Hoàng Bào trao gửi , Phú vinh chia đều .
Thái hậu Dương Văn Nga trao áo bào cho Lê Hoàn . Lý Chiêu Hoàng - vị Vua cuối cùng của triều đại nhà Lý "
" nhường ngôi " cho chồng là Trần cảnh là những giai đoạn HÀO HÙNG- BI THƯƠNG gây nhiều tranh cãi .
Nhưng giả dụ - Tôi xin nhấn mạnh là chỉ giả dụ thôi nhá .
Khổ thơ thứ 3 :
Nghe trong thơ có tiếng cồng .
Chiếu Vua Ban cả núi sông chuyển mình .
giả dụ viết là :
Trong thơ dậy tiếng trống đồng .
Chiếu Vua ban cả núi sông chuyển mình .
Thì sao nhỉ ???
Vì người mạo muội làm "biên tập " bài này nghĩ rằng :
CÔNG là một khí nhạc chỉ dùng trong cúng lễ và hội hè của từng địa phương . còn TRỐNG ĐỒNG mới là một khí nhạc mang tính trang trọng của những LỄ- ĐẠI LỄ . TRỐNG ĐỒNG gắn với Hội thề Đồng Cổ thời Lý-Trần . Tiếng trống đồng mang khí phách , sức mạnh quật cường của Dân Việt làm tướng giặc phương Bắc phải bạc tóc, rùng mình mỗi khi nhớ đến .
Câu " Trong thơ dậy tiếng trống đồng " không có động từ " nghe" nhưng vẫn thể hiện được động từ" Nghe " . mà còn có cả động từ " Thấy- nhìn thấy " hình ảnh người gõ TRỐNG ĐỒNG báo Chiếu Vua ban, báo Hịch Vua truyền . Hình ảnh quân sĩ , dân Nam xông vào trận tiền xả thân diệt giặc ngoại xâm .
Vài chữ giông dài không rõ có tải được ý nghĩa gì không
Mong Tác giả bài thơ và Lê thiếu Nhơn đọc qua và thông cảm .
Cầu HỒN VIỆT ban LỘC cho các nhà thơ có nhều giây phút thăng hoa để viết lên những bài thơ " Say lòng Người" như bài thơ này .