Sau khi đưa ý kiến của tác giả Doãn Hải Thanh với tư cách một bạn đọc có đôi điều trao đổi với nữ sĩ Vi Thùy Linh, lethieunhon.com cảm thấy rất cần thiết giới thiệu lại bài viết của nữ sĩ Vi Thùy Linh để bạn đọc có cơ sở thẩm định thấu đáo và công bằng. Chính nữ sĩ Vi Thùy Linh cũng ủng hộ cuộc đối thoại thiện chí, nên gửi nguyên văn cho trang web này. Mời bạn đọc cùng chia sẻ thắc mắc của nữ sĩ Vi Thùy Linh: “Hội nhà văn Việt Nam là Hội nghề nghiệp lớn nhất trong các Hội nghệ thuật nước ta. Báo, tạp chí của Hội để đăng tải những bài có tính chuyên môn, chất lượng nghệ thuật ít nhất ở mức “sạch nước cản” chấp nhận được, sao Nhà văn lại cho in bài viết trình độ yếu của Song Nguyễn? Tôi đã hỏi TBT Nguyễn Trác, rồi thấy cần cảm ơn ông, chính vì ông cho in bài ấy, những người cầm bút tận tụy với nghề, lao động đích thực, mới càng thấy rõ, độc giả cũng có dăm bảy loại…”




Đành gửi một “người việt” mơ hồ vắng mặt


VI THÙY LINH

    Với tôi, sau Nguyễn Tuân, Thạch Lam, ở thể tuỳ bút, Nguyễn Tham Thiện Kế là nhà văn hiếm hoi đủ sức chinh phục độc giả, xứng đáng tìm đọc. Tôi như quên đang ở tháng Sáu mùa Hè khi đọc lại Với hoa đào năm cũ. Xung động dẫn dắt tôi đến miền miền đẹp mà ông đã tạo ra bằng những bộ phim trên giấy của mình.
    Nguyễn Tham Thiện Kế đã làm phim tác giả, bằng văn chương.
    Sự tỉ mỉ dụng công của Nguyễn Tham Thiện Kế, cho thấy ông lao động nghiêm túc và yêu tiếng Việt nhường nào. Yêu thì mới làm phong phú nó bằng cách diễn đạt khác, tạo nét nghĩa mới cho những từ vốn đã quen, tạo từ mới, đổi sắc thái bằng tu từ điêu luyện.
        Tuỳ bút của ông là những bài thơ văn xuôi dập dìu nhạc điệu đan hình ảnh. Ngay khi dùng từ cũ, ông cũng kỹ lưỡng đổi nét nghĩa, sắp xếp từ bằng nhạc cảm thiên phú, như hoà âm phối khí lại cho những bản nhạc quen, để chúng có sức sống mới vang lên thật lạ khi trình tấu trước công chúng. Đọc Nguyễn Tham Thiện Kế, tôi lại nhớ đến nhà thơ Pháp Stéphane Mallarmé (1887 - 1985): “Kể từ khi ta chăm chút điều ta viết, chúng ta đã sáng tác thơ rồi”.

        Tôi đã đọc tuỳ bút này nhiều lần và ở lần 5, tôi xem đồng hồ: 20 phút, 20 phút đọc bằng thời gian chiếu 2 cuốn phim nhựa. Nguyễn Tham Thiện Kế quay tốc độ 48 hình/giây, để chiếu 24 hình/giây thành phim chậm 20 phút Với hoa đào năm cũ.
    Cách đây một tuần, tôi đọc Nhà văn số 5, tạp chí là một trong 4 ấn phẩm của Hội nhà văn gửi các hội viên, mục “Trao đổi” trang 137, in bài của Song Nguyễn “Về một truyện ngắn trong nước phải “dịch” ra tiếng Việt”, chê bai “Với hoa đào năm cũ” bằng luận điệu chụp mũ, xuyên tạc. Rồi 9 trích dẫn đánh số, với bình luận: “dùng từ sai nghĩa, câu văn què cụt, trật tự từ ngữ và cách diễn đạt rất trái khoáy kỳ quặc, không sao hiểu nổi, như đánh đố người đọc”. Mỗi trích dẫn, Song Nguyễn lại bồi một lời bình, sự đối nghịch nực cười ở chỗ, các trích dẫn đều là những sáng tạo riêng có, thuộc hạng những câu hay nhất của tuỳ bút (mà khi in Văn nghệ, biên tập viên đã ghi thành truyện ngắn) lại bị bình phẩm bởi người không biết sáng tạo đặc thù của nghệ thuật.

    Chính từ phê phán ở tầm đáy của sơ đẳng của Song Nguyễn, tôi đoán là một quý ông, không, có thể là một quý ông hợp sức cùng một vài quý ông khác, để “song tấu”, thậm chí “tam tứ tấu” bài viết bằng thái độ hằn học, mạt sát, đố kỵ.
    Nếu thực sự trân trọng văn chương là “sản phẩm tinh thần cao quý”, các ông phải biết nhận thấy đâu là văn chương. Tôi tin quý ông không phải người có “trình độ thẩm mỹ tốt và ham chuộng văn chương”, bởi nếu được thế, ở đẳng cấp độc giả cao cấp ấy, ông đã không hấp tấp phủ nhận tác phẩm một cách thiếu thiện chí, không hề có tính xây dựng.
    Thậm chí trích dẫn số 3, chưa hả hê với những gán ghép sai lệch, ông còn ác ý viết sai từ của nhà văn. “Sáng ngời những hiền thục”, bị ông chế thành “sáng ngời những hiện thực”. “Vẻ phong nhiêu ngoại ô hoa đào, hương trầm oản mời, đôi mắt sâu ánh ướt” đẹp hiển lộ phơi mở thế, mà ông cũng không thấy nổi, thì ông đâu có “kiên trì cẩn trọng” khi phê bình văn học. Đây không phải bài phê bình, vì không có lý luận văn học.

    Tôi cần hỏi ông về sự hổ thẹn, khi ông dám gửi bài viết non kém này tới tuần báo Văn Nghệ, bị từ chối, ông lại gửi tới tạp chí Nhà văn. Hội nhà văn Việt Nam là Hội nghề nghiệp lớn nhất trong các Hội nghệ thuật nước ta. Báo, tạp chí của Hội để đăng tải những bài có tính chuyên môn, chất lượng nghệ thuật ít nhất ở mức “sạch nước cản” chấp nhận được, sao Nhà văn lại cho in bài viết trình độ yếu của Song Nguyễn?

    Tôi đã hỏi TBT Nguyễn Trác, rồi thấy cần cảm ơn ông, chính vì ông cho in bài ấy, những người cầm bút tận tụy với nghề, lao động đích thực, mới càng thấy rõ, độc giả cũng có dăm bảy loại. Bài gần 2000 chữ mà lặp câu, lặp ý, không đưa một chính kiến nào có giá trị,  của riêng. Ông không “tự đánh mất mình” vì ông chưa và có lẽ không bao giờ khẳng định được mình. Ông không hề trân trọng chúng tôi – những nhà văn nhà thơ chuyên nghiệp, chứ chưa nói tới những tài danh lừng lẫy trong và ngoài nước mà ông nhắc hay đưa vào cho “oai”. Sự cẩu thả vô lối, làm ông tự lạc giữa rối rắm u mê, từ kiến thức nhập môn, đã khiến độc giả bực mình. Một cụm từ hay, một câu văn đẹp, ông không biết, không cảm thụ thì sao lại dám bêu riếu một áng văn hay, lại đòi những “sản phẩm tinh thần cao quý, đặc sản, kim cương”?! Thưa ông Song Nguyễn, ông còn ngạo mạn khuyên, thêm chủ ngữ, sửa mệnh đề cho nhà văn, để chúng “trở thành câu hoàn chỉnh”  khi bài của mình luận điểm, kiến thức lỗ mỗ, viết cái tâm không trong sáng, ông khiến tôi thương hại. Thành ngữ “điếc không sợ súng” lập tức hợp với cảnh huống này. Tôi “phục” nhất ông sự liều. Ông liều thật, liều quá khi gửi in bài này ở một tạp chí chuyên môn của Hội nhà văn VN. Các luận điểm cóp nhặt và chắp vá của ông, là cách tự khai trình độ tầm “học sinh phổ thông và người làm nghề không phải thường xuyên sử dụng ngòi bút”. Bởi chúng quá ấu trĩ, lạc hậu, và phản cảm. Hơn cả, chúng tôi thấy bực mình và không được tôn trọng khi ông dám dạy và khuyên một đồng nghiệp của chúng tôi bằng quan điểm lạc lõng, lẩm cẩm, đến mức lệch pha. Những cảm giác mà ông có và loay hoay đặt vào tác phẩm phản ánh sự bịa đặt cố ý và mức độ hiểu biết quá hạn hẹp.

    Đổi mới kinh tế từ 1986, Đảng và Nhà nước ta trong 24 năm qua, luôn khuyến khích đổi mới, sáng tạo mọi thành phần. Việt Nam đã gia nhập WTO từ 1/1/2007, tất cả đều phải học hỏi nâng cấp mình mới theo kịp thời đại, còn ông vẫn lọ mọ “sau luỹ tre làng”. Trong mọi loại hình nghệ thuật, đều có những tác phẩm kinh điển mà tầm cỡ và giá trị của nó sống mãi với thời gian. Song không có gì bất biến. Các khái niệm, quan niệm có thể bị thay thế, bổ sung, biến đổi hoặc biến mất.

    Cập nhật (up date) là đòi hỏi bắt buộc của thời cuộc, nếu không muốn bị tụt hậu, loại thải. Ngay trong thi ca, đâu chỉ có ngôn từ trên văn bản in, còn có thơ ký hiệu, thơ hình họa, thơ thị giác (tập Đàn của Dương Tường, toàn tranh của chính tác giả). Thơ không chỉ để độc giả tự đọc đơn tuyến, mà còn có thơ trình diễn (performance poetry), nhà thơ trình diễn (performance poet ). Nhà thơ Chilê Pablo Neruda (1904-1973), đã từng gây sốc bằng thơ nguyên âm, với toàn nguyên âm tạo cảm giác tượng thanh. Tập thơ này cùng toàn bộ các tập thơ của ông đã được trao giải Nobel văn học 1971. Vậy P.Neruda đánh đố ai, gây khó chịu cho ai khi làm thơ nguyên âm? Nếu  không hiểu, nếu biết chuyện này từ thời ấy, Song Nguyễn có phủ nhận phản bác cả hội đồng trao giải và bắt bẻ ngữ pháp với thi sĩ lớn này không?

Nguyễn Quang Thiều tuổi 35 đăng quang bằng tập thơ Sự mất ngủ của lửa, vòng nguyệt quế trao người xứng đáng, một thi sĩ không thể thiếu của văn chương hiện đại Việt Nam. Từ Sự mất ngủ của lửa (1992) đến nay, từ trường Nguyễn Quang Thiều, nhà thơ mà tôi muốn tôn vinh bằng tước hiệu M.Poet (Master – bậc thầy) vẫn gây dư chấn khiến những nhà thơ sung sức của nền thơ đương đại nhiều phen mất ngủ. Tuổi 54, Nguyễn Quang Thiều vẫn trẻ, vẫn yêu, vẫn làm thơ rất Tây, rất văn minh, bằng tiếng Việt. Và những kẻ từng chê thơ ông là thơ dịch thì không ai để tâm và biết đến. Chúng đã biến mất như sự vô nghĩa ban đầu.

    Văn học đương đại thế giới bùng nổ bao xu hướng, trào lưu và bối cảnh nghệ thuật đa phương tiện vận hành phổ biến toàn cầu, thách thức giới văn sĩ phải thay đổi bức bách.
    Không ai, không đâu quy định câu văn, câu thơ phải đủ chủ ngữ, phải đúng câu ngữ pháp. Phá cách này, Trần Dần, Lê Đạt, đã làm từ 60 năm trước. Không ai máy móc đến dốt nát để căn văn tại sao chủ ngữ không ở đầu câu văn hay câu thơ. Văn hay thơ hoàn toàn có quyền cho chủ ngữ về cuối câu hoặc có những đoạn không cần chủ ngữ. Khái niệm “câu đặc biệt” chỉ có một từ, đã ở sách giáo khoa cấp 2 (THCS). Việc phá, đổi cấu trúc câu, xáo trộn nghĩa của từ, ngắt câu, ngắt dòng đột ngột, với những dấu chấm “giật cả mình”, từng được coi là đột phá, được các sinh viên làm luận văn tốt nghiệp, nghiên cứu riêng, đã là hiện tượng gần 20 năm trước. Giờ đây, cách viết ấy chỉ là một kỹ thuật của hình thức biểu hiện.Tôi sẽ không bàn về văn chương đương đại với một “người Việt” mơ hồ vắng mặt, bởi thấy rõ quý ông quẩn quanh bế tắc dài dòng từ nhập đề đến kết luận, không nắm bắt văn chương hiện đại thế nào mà lại “dũng cảm” sửa văn, bắt bẻ nhà văn đầy chất hiện đại. Ông kiên trì lặp đi lặp lại ý mình, như cố cải tiến xe hơi Ferrari sang trọng thành công nông hoặc một ô tô Hàn Quốc chắp vá mà sử dụng nó sẽ gây tai nạn.

    Chỉ có những nhà văn nhà thơ có trí tưởng tượng phong nhiêu, kiến văn rộng, tâm hồn và lượng từ vựng giàu có mới có thể tư duy hình ảnh triền miên.
    Đây cũng chính là một tiêu chí để đánh giá tính đương đại, hiện đại của mỗi tác giả. Nguyễn Tham Thiện Kế có phẩm chất ấy.
    Người thưởng thức cũng phải nâng cao mình mới cảm nhận, thấu hiểu tác phẩm. Không phải trí thức Việt, nhà văn Việt nào cũng giỏi tiếng Việt, chưa nói đến dùng hay và làm giàu nó.  Không phải nghệ sĩ chuyên nghiệp nào cũng giỏi nghề của mình, chưa nói khả năng am tường, đạt sự biết đến mức tri âm tri kỉ, như biết xem tranh, biết nghe nhạc, biết xem phim, biết ngôn ngữ ballet và biết đọc. “Cái đẹp sau hết lại phụ thuộc vào người thưởng thức. Hỡi ôi! Nhưng người thưởng thức lại không trình độ thì thật tai hại cho nghệ thuật” - Bùi Xuân Phái (1920 - 1988). Không chỉ tai hại đâu, mà còn tàn phá hoặc mưu sát nghệ thuật. Đúng như V. Lênin nói: “Nhiệt tình cộng ngu dốt bằng cấp số nhân của phá hoại”.

    Khi Song Nguyễn bài bác tuỳ bút này phải “dịch” ra tiếng Việt, vô hình trung ông khẳng định nó “Tây”. Đấy lại là lời khen mà ông không biết. Hồn Việt, chữ Việt mà viết hiện đại như Tây, đâu phải ai cũng làm được. VN không có Hàn lâm viện. Nếu không đến Viện Ngôn ngữ học, Viện Văn học để tìm hiểu, Song Nguyễn nên đọc thêm sách và tra lại lịch sử.
    Bảng chữ cái, cách ghép từ, cấu trúc câu của chúng ta theo ngữ pháp tiếng Pháp, mệnh đề câu thường dùng động từ trước tính từ sau. Tôi đã tới Lyon thu 2007, thăm nhà thờ dòng thánh Jésuite, nơi hành đạo của giáo sĩ Pháp A. De. Rhodes, người tạo ra chữ quốc ngữ. Tôi đã thăm Lycée Ampère, nơi A. De Rhodes từng học, ở đó, trường vẫn giữ cuốn từ điển Việt Nam của ông.

    Tôi đã thấy những cuốn sách của Phạm Văn Đồng - nhà chính trị, văn hoá lớn về giáo dục, văn hoá, do ông viết bằng tiếng Pháp, trên đất Pháp. Câu “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”, nếu chỉ hiểu là dùng từ thuần Việt, ép nhà văn nhà thơ viết câu đúng ngữ pháp, thì thật thô thiển và trình độ đọc “vỡ chữ” không hiểu sự thâm thuý. Khi Người nói câu ấy, là nhắc nhở về diễn đạt trong tinh thần sử dụng, phải làm cho tiếng Việt giàu và đẹp lên. Từ vựng các ngôn ngữ sử dụng nhiều trên thế giới, không ngừng biến động, nên người ta có khái niệm “sinh ngữ”.Khi Song Nguyễn viết : “Trong ngôn ngữ thường ngày người ta thường nói ... chứ có ai nói”, ông đã mâu thuẫn ngay trong một diễn đạt. “Người ta nói”, mà ông lại dám sửa câu văn. Khẩu ngữ, quán ngữ, lời nói thường ngày khác với diễn đạt văn viết. Điều ấy ông cũng không biết ư? Văn nói khác với văn viết, đây là chỗ phân biệt người biết viết văn và người không biết viết văn. Song Nguyễn vì kém cỏi hay cố ý coi thường các nhà văn, nhà thơ? Tạo ra chuẩn mực của phi chuẩn mực, chỉ có cao thủ mới đạt được. Những nghệ sĩ Avant – garde (tiên phong) là những chiến binh dũng cảm, thắng chính mình và thói quen nghe ngóng hành động theo đám đông.
        P. Picasso vẽ và yêu không ngừng, vì thế ông luôn trẻ, cả đời ông đã vẽ tới 25.000 bức tranh. Xem bút tích của ông, trong bảo tàng Picasso Paris, tôi bắt gặp bài báo ghi lại việc ông phải nghe một anh chàng bất tài phát biểu về cái đẹp.“Sốt ruột”, danh hoạ người Tây Ban Nha cắt lời: “Thôi đủ rồi, anh nên phát biểu bằng brosse (bút vẽ) thì hơn”.
    Nhân đây, tôi cũng muốn nhắn ông Song Nguyễn: “Thôi đủ rồi, ông nên phát hiểu bằng tác phẩm!”.

    Trở lại văn bản Song Nguyễn, ông không hiểu hàm ngôn lời Phạm Văn Đồng “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. Liệu ông có biết mình ở đâu, khi đọc lời khuyên của Phạm Văn Đồng: “Không có tài, không nên làm văn nghệ”, không làm và cũng không nên tham gia thì đỡ lộ nguyên hình.
    Nếu thành ý, xây dựng, cớ sao ông không xuất hiện chính danh? Không chính nhân quân tử, nên mới có một việc vô nghĩa đến mấy lần. Ngày 2/6, nhà văn  Nguyễn Hữu Nhàn và nhà thơ Kim Dũng cho biết, bài Song Nguyễn đã photocopy gửi khắp Việt Trì, phong bì đóng dấu bưu điện Tiên Cát, một phường của TP. Sao lại diễn ra “tình cờ” này ở nơi nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế đang sống? Các nhà văn đều có báo biếu, sao phải tốn công, tốn tiền nhân bản phát tán?

        Sau Nguyễn Tham Thiện Kế, tôi và đồng nghiệp nào sẽ bị đọc những bài như thế? Cũng không nên phiền lòng lâu, không đáng. Dùng ấu trĩ cổ hủ để soi chiếu nghệ thuật hiện đại, thật lẩm cẩm!
    Tôi muốn ngợi ca Marguerite Duras, nhà văn nổi tiếng của Pháp, sinh 4/4/1914 tại Gia Định, Sài Gòn. ấu thơ đến thời thiếu nữ, mối tình đầu, đều ở Nam Kỳ. Cuộc tình sét đánh trên chuyến phà nối Vĩnh Long với Sa Đéc, bà và một người đàn ông Trung Hoa yêu nhau. Dấu ấn VN không chỉ trong các bối cảnh bà đưa vào tiểu thuyết tự truyện Người tình, bà còn đưa nhịp điệu tiếng Việt, âm hưởng Việt vào văn, với cách sử dụng tiếng Pháp hoàn toàn khác biệt. Tác phẩm nhận Goncourt 1984, giải thưởng văn học danh giá nhất của Pháp. Năm 1992, ĐD Jean Jacques Annaud làm phim từ tiểu thuyết này, phim thành công vang dội. Dấu ấn ngữ pháp pha trộn Việt ấy còn xuất hiện tiếp ở Người tình Hoa Bắc, Đập ngăn Thái Bình Dương. M.Duras cũng là biên kịch phim Hiroshima tình yêu của tôi (1959, ĐD Alain Resnais) gây chấn động.
    Tôi đã thăm mộ bà tại nghĩa trang Montparnasse, và sừng sỡ khi mộ chỉ để giản dị kí tự “M.D”, viết tắt tên họ bà.
    Song Nguyễn, một “người Việt” ẩn danh, đã giấu tên mình, lại thiếu tôn trọng khi viết và viết tắt tên nhà văn thành N.T.T.K. Tôi không muốn dành một cơ hội nào để nhắc gì đến ông nữa.

     Lê Quý Đôn (1726 - 1784) viết: “Đọc sách mà tìm được một ý hay, ví như có được một thuyền hạt ngọc”.
    Với hoa đào năm cũ và những tác phẩm khác, qua thủ pháp cường thực của nhà văn, đã làm tôi phải kìm giữ để duy trì được sự cân bằng tuyệt diệu qua đại ngàn hình ảnh được viết bằng cảm xúc đằm  mãnh liệt. Ông quan niệm: “Viết văn là sáng tạo, đưa ra cái đẹp của hình ảnh thông qua hệ ngôn ngữ truyền tới người xem những cảm giác mới lạ”. Mỗi lần đọc một tác phẩm của Nguyễn Tham Thiện Kế, độc giả lại được nhà văn nâng niu trao một hạt ngọc. Đọc nhà văn này một cách hệ thống, tôi và các độc giả nhận thêm một chuỗi ngọc cho tâm hồn mình. Trữ lượng từ vựng nhiều Megabytes cho phép ông phóng tay tuôn đẫm mỹ từ. Mỗi dòng văn của ông là một lời tình, mỗi tác phẩm là cuộc tình tự đắm mê với văn chương, những gì ông viết và người ông hướng tới.

    Và, thưa nhà văn Nguyễn Tham Thiện Kế, ông hãy tiếp tục tình tự trong ánh sáng, bằng dấu ấn đậm nét của ông. Chúng tôi đón đọc và nhận ra ông, dù chỉ bằng ký tự N.T.T.K viết tắt.

6.6.2010

| Thảo luận(2) |
Nguyễn Anh Tuấn
04/07/2010 11:26
Đọc xong bài viết, nhận ra 2 điều:
1. VTL là người đọc nhiều (hoặc có vẻ đọc nhiều) nên hiểu biết (hoặc có vẻ hiểu biết), và đang cố tỏ ra điều đó một cách tích cực nhất.
2. Giọng lưỡi quá cay cú, theo kiểu xô lấy được.
Vì vậy, bài viết này hoàn toàn phản tác dụng.
Lan Email
29/06/2010 23:29
Toi thay bai viet cua V.T.L cung co nhieu y hay, mac du thai do phe binh cua co kha la gay gat o muc khong can thiet.
Toi khong biet V.T.L ngoai nhung bai tho cua co trong Album Nhat thuc cua Ha Tran, theo toi, do la nhung bai tho hay. Toi thay V.T.L la nguoi dung cam, dam theo duoi the loai tho moi, khong phai ai cung muon nghe. Nghe co tra loi phong van tren bao chi, truyen hinh thi toi thay co co ve ngao man, noi nhieu, dai dong, khong can thiet, hay tranh thu khoe khoang ban than, cai nay, ro rang la se bat loi cho co
Phân trang 1/1 Trang đầu 1 Trang cuối
Viết Thảo luận
Hình vui
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
Mở HTML
Mở UBB
Mở hình vui
Ẩn giấu
Hãy nhớ
Tên gọi   Mật khẩu   Khách không cần mật khẩu
Địa chỉ web   Email   [Đăng ký]
               

 

Những bài mới nhất