TRIỆU TỪ TRUYỀN và tuyển thơ song ngữ


[Vào lúc : 13:21 - 13/04/2010 | Chuyện mục : Chuyện làng văn nghệ]
Nhà thơ Triệu Từ Truyền trưởng thành từ phong trào học sinh đấu tranh đô thị tại Sài Gòn trước năm 1975. Không chỉ làm thơ trong hai lần bị bắt giam ở nhà tù Côn Đảo, mà suốt 35 năm thanh bình vừa qua cũng không làm dịu bớt những băn khoăn của Triệu Từ Truyền trên từng trang bản thảo thi ca. Như một thái độ hội nhập tích cực, Triệu Từ Truyền quyết định in một tuyển tập thơ song ngữ, với phần dịch tiếng Anh của Nguyễn Thị Bích Nga. Lời tựa ấn phẩm này, nhà thơ Đoàn Vị Thượng nêu cảm nhận: “Có vô số những câu thơ, bài thơ Triệu Từ Truyền viết theo thi pháp riêng. Do vậy, nên thơ anh còn bị dè chừng, có  người thích tinh thần đấu tranh trong thơ anh, nhưng chưa chấp nhận phong cách sáng tác đặc thù, hoặc cũng có người thích ngược lại. Đó không phải là sự thiệt thòi cho bản thân anh, đó là sự thiệt thòi cho thơ.  Người chiến thắng đã xuất hiện, kẻ  thua trận đã lánh đi, nhưng thơ  Triệu Từ Truyền không khải hoàn cũng không lánh nạn, nó tiếp tục làm cuộc di trú  đâu đó, trong lòng bạn đọc công tâm vì dòng chảy luôn mới của văn học”




Như  phần đông các nhà thơ  tài năng khác, Triệu Từ  Truyền bắt đầu làm thơ  từ độ tuổi 14-15, và  vẫn gắn bó với thơ  cho đến nay, khi anh đã tròn 60.  Boris Pasternak có lần thốt lên một tiếng kêu bi tráng: Sống đến tận cùng đâu phải chuyện chơi  ! làm tôi liên tưởng đến việc làm thơ của Triệu Từ Truyền để muốn đổi câu nói ấy thành: Làm thơ đến tận cùng đâu phải chuyện chơi ! Ấy bởi vì, theo tôi hiểu, Pasternak muốn nói sống đến tận cùng không có nghĩa sống lâu mà là sống tràn trề, hết mình, đi cho đến cùng thân phận người của mình. Thế thì đối với thơ ca, Triệu Từ Truyền cũng có thái độ như thế - không chỉ muốn làm thơ mãi mãi, anh còn muốn tát cạn cho đến cùng những gì uyên áo thâm viễn nhất chứa đựng trong mỗi bài thơ mà anh chính là người tạo tác. Hình như cái "bản năng gốc" này đã chi phối anh suốt đời, cho nên, trước và sau, xưa kia và bây giờ, những gì anh viết ra cũng chỉ đều là một - một trong suy tưởng, cảm xúc và một trong cả cách thể hiện - hay như ta thường gọi, đó là sự nhất quán trong giọng điệu và bút pháp.

    Mấy năm gần đây, trong những bài tổng kết sáng tác của những cây bút học sinh sinh viên (1960-1975) đều xác định Triệu Cung Tinh, chính là Triệu Từ truyền sau này, xuất hiện khá sớm cùng với Trần Quang long, Ngô Kha, Đông Trình, Tần Hoài Dạ Vũ, Lê văn Ngăn…Thơ ca tranh đấu  thường lấy  bối cảnh chiến tranh, đầy khát vọng hòa bình, thống nhất đất nước làm đề tài trong thơ, nhưng Triệu Từ Truyền đã âm thầm cho thấy anh có giọng điệu khác với đa số những người làm thơ thuộc thế hệ mình. Tôi dùng chữ “âm thầm” là vì - cũng khá dễ hiểu, thơ anh vốn kén người đọc, và do tác giả của nó đang tham gia hoạt động bí mật ở bên phía không cầm quyền, nên càng ít có điều kiện “lộ diện”, đăng tải công khai trên các sách báo miền Nam lúc bấy giờ.  Tập thơ Đêm Lên Cơn Dài xuất bản 1965 tại Sài Gòn với bút danh Triệu Cung Tinh đã gây được tiếng vang ở cả hai phía, vừa thể hiện tinh thần tranh đấu của một thanh niên xả thân vì nước, một thủ lĩnh của phong trào học sinh sinh viên đô thị: “Những thằng con trai 18,20/ đã đứng dậy khi bao người ngã xuống/……./lũ nó để lại một bờ đê xương máu/ ngăn cõi đời cuồng vọng cơn đêm/ mà nước lũ hôm nay/ vào cánh đồng thế kỷ” ( Tâm Trạng-12/1964), vừa  phơi bày nỗi dằn vặt của một cá thể có ý thức, chứ không làm thơ như viết khẩu hiệu: “anh gắn lên môi điếu thuốc chưa đốt/ vì không hộp quẹt/ nhưng có dòng khói từ trong mũi bay ra/ đó là khói của trái đạn cay/và giọt máu hồng/trên đầu điếu thuốc của anh” (Nghĩ tới em-11/1964). Bài thơ ngắn này anh viết tặng một nữ sinh bị đánh đập giam cầm sau khi  tham gia biểu tình chống nhà cầm quyền đàn áp tự do tín ngưỡng và thiết lập nội các chiến tranh trong thập kỷ 60 ấy, đã chứng minh Triệu Từ Truyền  làm mới thơ, khác biệt với phong cách thơ của phong trào thơ mới thập kỷ 40 và  cả về sau nữa.

Thơ  ca không phải là những lời  “năn nỉ”, nó là  lương tâm của thời đại. Cuộc chiến rồi sẽ lùi xa, những lời “năn nỉ” – dù rất có ích - cũng ngưng vang rền, chỉ có “lương tâm” là còn đánh động mãi không thôi. Thơ ca luôn có những “đấu tranh” khác trong nó, đó là sự tìm đến vẻ đẹp, triết lý sống, nỗi băn khoăn nghìn đời của con người về thân thế của nó trong lòng một nhân loại chung, một trái đất chung, thậm chí một vũ trụ chung.

Sông Bến Hải là vết đau chia cắt Bắc Nam thời  đó, có nhiều cách bày tỏ nguyện vọng thống nhất tổ quốc, riêng Triệu Từ Truyền chỉ nói: “Tôi muốn được chôn trên sông / Để quên chia cắt” ( Hai tôi - 1964). Tả những đứa trẻ nạn nhân chiến tranh, anh vừa nói được nghĩa đen và cả nghĩa bóng, hệt như một bức tranh của Picasso: “Từng cặp mắt trẻ thơ ngước lên / Rụng khỏi khuôn mặt / Rơi xuống lòng bàn tay anh” (Bên trong hy vọng - 1965). Cảnh báo thảm họa chiến tranh, từ Việt Nam, anh vẽ ra hậu chiến tranh, cho cả hình hài nhân loại mới: “Tôi nhồi cục những mả mồ / Nắn thành trái đất mới cho loài người” (Trái đất mới - 1965). Có vô số những câu thơ, bài thơ Triệu Từ Truyền viết theo thi pháp riêng có của mình như thế.Do vậy, nên thơ anh còn bị dè chừng, có  người thích tinh thần đấu tranh trong thơ anh, nhưng chưa chấp nhận phong cách sáng tác đặc thù, hoặc cũng có người thích ngược lại. Đó không phải là sự thiệt thòi cho bản thân anh, đó là sự thiệt thòi cho thơ. 
Người chiến thắng đã xuất hiện, kẻ  thua trận đã lánh đi, nhưng thơ  Triệu Từ Truyền không khải hoàn cũng không lánh nạn, nó tiếp tục làm cuộc di trú  đâu đó, trong lòng bạn đọc công tâm vì dòng chảy luôn mới của văn học.. Và như thế, như một sứ mệnh được trao truyền, anh vẫn phải tiếp tục sáng tác, tìm kiếm những người-đọc-tri-âm của mình, những người biết nhìn sâu vào lòng mình nhiều hơn là nhìn vào những xôn xao thu hút của cuộc đời.    
                 
       Có phải chính vì thế mà sau khi thống nhất đất nước (1975), Triệu Từ Truyền vẫn cứ hồn nhiên mà làm thơ với những Mảnh vỡ hồn nhiên, vẫn dật dờ đời mình mà viết Dật dờ trong sương, vẫn rỗng rang tâm hồn như hư không mà viết Va chạm hư không (tên các tập thơ xuất bản sau 1975 của anh). Chính cách thế ấy càng làm lộ rõ hơn chất thơ của Triệu Từ Truyền. Anh thiên về nghiền ngẫm, triết lý, và cho ta thấy thơ ca có thể đứng cao hơn mọi cuộc chiến tranh. Chiến tranh nếu có trong thơ thì đó chỉ có thể là cuộc chiến trong chính nó, tự cải tạo, hoàn thiện mình.

Chất "tranh đấu" trong thơ anh ngày nay không còn là sự tìm kiếm hòa bình, thống nhất cho một quê hương nữa mà là cho nhân phẩm và giá trị nhân bản của toàn xã hội, và ở mọi nơi nơi. Không dừng lại ở sự thống nhất cho địa dư xứ sở một thời, anh còn muốn tìm tới sự liền lạc mãi mãi giữa mọi tâm hồn người.Trong trường hợp này Triệu Từ Truyền khá giống Trịnh Công Sơn trong âm nhạc. Người nhạc sĩ thiên tài này cũng đã từng “đơn ca” giữa những “hợp ca tranh đấu”  lúc bấy giờ. Ông đã và mãi còn đi tiếp cho những đơn-ca-tranh-đấu khác trong lòng một đất nước, một nhân loại còn bất toàn chứ không “ngủ yên trên chiến thắng”. Mặt khác, ở loại nhạc trữ tình, Trịnh Công Sơn vẫn sáng chói bên cạnh các đồng nghiệp tài năng Phạm Duy, Cung Tiến, Phạm Đình Chương, Lê Uyên Phương, Vũ Thành An, Ngô Thụy Miên…. Thì cũng thế, ngoài thơ tranh đấu, Triệu Từ Truyền trong thơ tình, thơ đời cũng vẫn có thể sánh vai với những Thanh Tâm Tuyền, Trần Dạ Từ, Nguyên Sa, Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn, Nhã Ca… một thời. Nhưng, như đã nói, anh đứng hẳn một bên (chứ không “trốn lính” tại chỗ như Trịnh Công Sơn) nên không được nêu tên chính thức trong văn học sử miền Nam trước 1975, song vẫn “âm thầm” đi bên họ, trong cõi thơ bền bỉ của mình.

Gần đây nhất, Triệu Từ Truyền lại ra mắt tập thơ “Mặt cắt cõi ngoài” . Với tập thơ này, anh lại đang tiếp tục thốt lên lời hứa - hay là lời than - : Đâu phải chuyện chơi trong việc làm thơ đến tận cùng ! Thơ ca lại cuốn hút anh đi mãi trên đường, hệt như năm bậc thang sinh-lão-bệnh-tử-sinh trong triết lý Đông phương, gập ghềnh mà trôi chảy miên man anh liên tưởng  trong một lần đến nhìn ngắm những vẻ thiên nhiên hoang sơ ở vùng đất Cát Tiên : Đoá lan rừng bừng tỉnh sớm mai, thoả mãn trước sức công phá của tê giác sau đêm nguyên sinh. Năm bậc thang sụp xuống chìm ngập trong đầm nước ngọt ngào, nổi lên cột đá linga dính chặt vào phiến thạch yoni / Bắt đầu sinh sôi và kết thúc cũng sinh sôi (Cát Tiên ca - 2001).
Ứng vào anh, con đường thơ của Triệu Từ Truyền cũng: Bắt đầu sinh sôi và kết thúc cũng sinh sôi ? Người thơ này không có tuổi.
                                  ĐOÀN VỊ THƯỢNG

| Thảo luận(0) |
Viết Thảo luận
Hình vui
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
Mở HTML
Mở UBB
Mở hình vui
Ẩn giấu
Hãy nhớ
Tên gọi   Mật khẩu   Khách không cần mật khẩu
Địa chỉ web   Email   [Đăng ký]
               

 

Những bài mới nhất