Bài thơ “ Đất nước thời gian lao” của Nguyễn Việt Chiến vừa được giải B cuộc thi thơ Tạp chí văn nghệ quân đội. Nhiều người nói với tôi, bài thơ ấy giải A mới xứng! Tôi…cười, một nụ cười gần giống nụ cười của tác giả bài thơ. Và tôi biết, nếu nghe câu ấy, Nguyễn Việt Chiến cũng sẽ…cười, như vậy. Một nụ cười hồn nhiên, nhưng tách bạch cả “phần cứng” và “phần mềm”. “Phần cứng” là những gì không thể thay đổi trong anh, còn “phần mềm” là cách ứng xử luôn nhẹ nhàng và đằm thắm của Nguyễn Việt Chiến: “Mẹ ở lại với sông Hồng tần tảo/ Áo phù sa lam lũ tháng ngày/ Câu quan họ cất trong bồ thóc cũ/ Sông Cầu trôi như một tiếng thở dài…”
NGUYỄN VIỆT CHIẾN…CƯỜI
THANH THẢO
Tôi ít thấy một nhà thơ Việt nào lại có cái cười hồn nhiên, trong trẻo và…ngây thơ như cái cười của nhà thơ Nguyễn Việt Chiến. Anh bây giờ đã là “người nổi tiếng”, “người của công chúng” rồi, nhưng không vì thế mà Chiến thay đổi bất cứ cái gì, nhất là thay đổi…nụ cười. Vẫn cái cười tuếch toác đó, nó làm “lộ” hết tâm hồn Nguyễn Việt Chiến, một nhà thơ đa cảm, đa mang và cũng đa…sự. Ngay khi Chiến thoát khỏi “nạn tai”, tôi nhìn bức ảnh anh chụp với bạn bè đón anh ở Hà Nội, đã thấy Chiến…cười rồi. Vẫn cái cười không thể lẫn với bất cứ ai đó. Nụ cười đã giúp anh bền lòng trong gian nan, và khiêm nhường trong hạnh phúc. Đó là một nụ cười hơi đặc biệt, vì nó nở trên một gương mặt nhiều khắc khổ. Giống như đóa hoa dại nở trên mảnh ruộng làng dọc ngang những đường cày. Gương mặt của Chiến khắc khổ thật, một gương mặt cố dấu nỗi buồn, một gương mặt lẽ ra sẽ còn…khổ hơn, nếu, vâng, nếu anh không có nụ cười “thương hiệu Nguyễn Việt Chiến” đó.
Tôi trước đây chỉ đọc thơ của Chiến, và anh em quen nhau qua…điện thoại, qua email, chứ cho tới khi Chiến lâm nạn, tôi chưa được một lần gặp anh. Nhưng nhiều khi trong cuộc đời này, chẳng cần gặp cũng cứ yêu quí nhau như thường. Trước, tôi quí mến Chiến vì những bài thơ của anh, những bài báo của anh, sau này tôi lại yêu quí Chiến bội phần vì nhân cách của anh, niềm tin của anh. Tôi cảm được cái “phần cứng” trong nhà thơ cựu quân nhân này, và đó là “phần cứng” của một người thẳng ngay, yêu nước, cái phần không thể thay đổi dù trải qua phong ba. Bây giờ thì chúng tôi đã gặp nhau nhiều mỗi khi tôi ra Hà Nội, anh em lại có dịp ngồi bù khú với nhau bên cốc bia. Chiến lại…cười, và tôi thích, tôi đồng cảm với nụ cười trẻ thơ này, có lẽ vì tôi cũng hồn nhiên gần như Chiến, và cũng hay cười toác loác không biết dấu diếm hay che chắn, như Chiến.
Chơi với những người ngay thật thì quả là hạnh phúc. Ta không cần có bất cứ sự phòng ngừa hay rào đón nào. Ta cứ ào ào mà chơi mà thổ lộ tâm tình, rồi ai lại về việc của người ấy. Lâu lâu gặp nhau là thấy vui, xa nhau cũng nhớ nhớ. Ở tuổi tôi, thường người ta thích hồi ký, riêng tôi lại cứ thích những chuyện mới xảy ra, đang xảy ra, và cố gắng cảm thấy những gì…sẽ xảy ra. Cũng chỉ để cho…vui, vậy thôi! Có lẽ vì thế mà tôi thích tạng người như Nguyễn Việt Chiến. Thích người, rồi thích cả thơ của người ấy. Bài thơ “ Đất nước thời gian lao” của Nguyễn Việt Chiến vừa được giải B cuộc thi thơ Tạp chí văn nghệ quân đội. Nhiều người nói với tôi, bài thơ ấy giải A mới xứng! Tôi…cười, một nụ cười gần giống nụ cười của tác giả bài thơ. Và tôi biết, nếu nghe câu ấy, Nguyễn Việt Chiến cũng sẽ…cười, như vậy. Một nụ cười hồn nhiên, nhưng tách bạch cả “phần cứng” và “phần mềm”. “Phần cứng” là những gì không thể thay đổi trong anh, còn “phần mềm” là cách ứng xử luôn nhẹ nhàng và đằm thắm của Nguyễn Việt Chiến:
“ Mẹ ở lại với sông Hồng tần tảo
Áo phù sa lam lũ tháng ngày
Câu quan họ cất trong bồ thóc cũ
Sông Cầu trôi như một tiếng thở dài…”
Tôi dừng lại rất lâu ở câu thơ cuối: Sông Cầu trôi như một tiếng thở dài…Không phải dễ để có câu thơ đó.
Mẹ đã sống dưới mưa phùn ảm đạm
những ngày dài nghèo đói quắt quay
Mẹ thiếu sữa sinh đứa con thiếu tháng
Tổ quốc xanh xaoTổ quốc hao gầy
Mẹ có mặt trong dòng người nhẫn nại
lặng lẽ xếp hàng từ mờ sớm tới đêm hôm
Mẹ lần hồi thời cơm tem gạo phiếu
nuôi lớn những người con
rồi gửi tới chiến trường
Có người sẽ nói với tôi: những câu thơ này cũng bình thường thôi mà! Thì đúng thế! Đây là những câu thơ hết sức bình thường, hết sức giản dị, nó giản dị như “ Mẹ lần hồi thời cơm tem gạo phiếu/nuôi lớn những đứa con/rồi gửi tới chiến trường/” Cái bình thường ấy, cái có vẻ như “tự nhiên” ấy khiến ta chết nghẹn ! Đây là bài thơ mà phải đọc nó bằng tấm lòng yêu nước thương dân thì mới vào được chiều sâu ngỡ bình dị của nó. Có thơ nông cạn bẩm sinh, có thơ lừa ta bằng sự sâu sắc “dỏm”-thực chất là nông cạn và sáo rỗng. Nhưng cũng có thơ đánh lừa ta bằng sự đơn giản bên ngoài. Ta phải bình tĩnh đi qua sự giản đơn đó, và thấy…
“ một thế hệ hồn nhiên không biết chết
chưa từng yêu khi gục ngã cuối trời”
Bởi một điều đơn giản: nếu biết chết, chết nhiều như vậy, chết như không như vậy thì chưa chắc đã dám đi chiến trường! Thế hệ chúng tôi hồi đó hồn nhiên lắm, mà cũng chả nghĩ ngợi gì nhiều! Tôi chợt nhớ, mới đây, tại một hội nghị văn học, một nhà thơ nổi tiếng hơn cả thơ mình, đã từng viết một câu đánh giá thế này về một truyện vừa của một nhà văn thế hệ chống Mỹ: truyện ấy cũng thường thôi! Nhà văn kia đã nói lại, cũng một cách đơn giản: ông thử viết được như thế đi! Có thể cái truyện vừa ấy chưa phải là một kiệt tác, nhưng đó là một truyện rất hay, và cái quan trọng hơn, “ông” có biết nó được viết ra trong hoàn cảnh nào không ? Chả ai muốn có cái “hoàn cảnh” khốn khổ như thế, chết tiệt như thế để viết tác phẩm cả! Nhưng nó đã có, và phải chấp nhận nó để sống còn và viết. Nguyễn Việt Chiến hiểu được điều này bằng chính thơ của anh, chứ không phải bằng những lời đãi bôi, nghe qua rồi bỏ. Được như thế là chúng tôi mừng lắm rồi!
Thời đất nước gian lao
Chúng đã ngủ cả rồi
những con hươu bị bóng đêm săn đuổi
chúng đang gác cặp sừng lên vầng trăng cuối tháng
rồi nằm mơ về một cánh rừng
không có thuốc đạn và súng săn
Họ đã ngủ cả rồi
những người lính bị chiến tranh săn đuổi
họ nằm mơ gặp lại bầy hươu
gác sừng lên người bạn vô danh
trên cánh rừng đã chết
Chỉ còn lại vầng trăng và giấc ngủ
chỉ còn lại dấu vết cuối cùng của bầy hươu bị săn đuổi
chỉ còn lại câu thơ thầm lặng
về những người đã ra đi
Chỉ còn lại những gì không còn lại
bởi người đau đớn nhất sau chiến tranh
không ai khác ngoài mẹ của chúng ta
những đứa con không trở về
hoà bình dưới mưa phùn
được đắp bằng cỏ non và nước mắt
*
* *
Đêm đêm
những người con ngỡ đã đi thật xa
đang lặng lẽ trở về
họ lẫn vào gió vào sương đêm
không cần an ủi
họ chẳng ồn ào như lời ca sôi sục ngày ra đi
Họ còn nguyên tuổi trẻ
những người lính chưa tiêu phí một xu mơ ước
chưa tiêu hoài một đồng thanh xuân
Họ trở về tìm lại
trang sách học trò đêm đêm còn thao thức
trên cánh đồng tiếng Việt ngàn năm
Mẹ lại thấy chúng con về
như cánh cò tuổi thơ lưu lạc
đã bao ngày phải xa rời thôn ổ yêu thương
chúng con trở về tìm lại
giọt nước mắt xót xa và đắng cay của mẹ
Một bên là núi sông ngăn cách
còn bên kia là bóng đêm chiến tranh
vẫn biết đạn bom không có mắt
vẫn biết hận thù không thể phân biệt nổi
đâu là hoa sen và đâu là bùn tối
nhưng các anh vẫn phải ra đi
Các anh phải ra đi
lời ru chùa Tây Phương
những La Hán mặt buồn
người thợ mộc xứ Đoài
lấy thân xác hom hem của mình làm mẫu vẽ
ba mươi sáu dẻo xường sườn
réo rắt tấu lên bản đàn tam thập lục
người gẩy đàn thì đau đớn
mà bản nhạc viết cho đàn lại reo vui
*
* *
Mẹ đã sống dưới mưa phùn ảm đạm
những ngày dài nghèo đói quắt quay
Mẹ thiếu sữa sinh đứa con thiếu tháng
Tổ quốc xanh xaoTổ quốc hao gầy
Mẹ có mặt trong dòng người nhẫn nại
lặng lẽ xếp hàng từ mờ sớm tới đêm hôm
Mẹ lần hồi thời cơm tem gạo phiếu
nuôi lớn những người con
rồi gửi tới chiến trường
Mẹ đã khóc lúc rời ga Hàng Cỏ
những đoàn tầu hun hút tuổi hai mươi
một thế hệ hồn nhiên không biết chết
chưa từng yêu khi gục ngã cuối trời
Mẹ ở lại với sông Hồng tần tảo
áo phù sa lam lũ tháng ngày
câu quan họ cất trong bồ thóc cũ
sông Cầu trôi như một tiếng thở dài…
*
* *
Tàu xuyên đêm
tiếng gió xé bánh xe lăn quần quật
đêm nay họ trở lại một thời gian lao
đường vào Nam hun hút những chuyến tầu
máu rất đỏ tuổi hai mươi nằm lại
câu hát bảo:
tuổi hai mươi những người đi trẻ mãi
câu thơ bảo:
đất nước hình cánh võng mẹ ru ta
Và ở hai đầu đêm võng mắc dọc rừng già
trăng cũng sốt rét rừng như ta sốt
trăng mất máu như bạn ta thủa trước
dọc cánh rừng na-pan
Sông Thạch Hãn
nước mùa này còn ấm
và các anh trong suốt
những người hy sinh thời gian lao
Mây Quảng Trị
mùa này vẫn một mầu huệ trắng
trên Cổ Thành
như ngày các anh ngã xuống
những người hy sinh thời gian lao
Và mưa gió Trường Sơn
mùa này vẫn tắm gội
những người con nằm lại
thời đất nước gian lao
Những cánh rừngcuối thu ngủ dưới mưa phùn
đất nước tôi những người nằm trong đất
chất phác như bùn hồn nhiên như cỏ
buồn đau không còn thở than
Những ngọn sóng đất đai lưu giữ mọi thăng trầm
người chép sử ngàn năm là bùn đất
kiên trì và nhẫn nại
máu của người là mực viết thời gian.
| Thảo luận(4) |
Những bài mới nhất
Một giải thưởng thơ không thể chấp nhận?
ĐINH QUANG TỐN không thần thánh hóa nghề văn


Tám Huế đừng giả vờ giả vịt mà xúc phạm cả một Ban Biên tập.
Không còn gì để nói thêm, nhưng có một bức xúc cần biết tường tận về nhân thân 2 cây bút bình thơ này. Ông Nhơn "bật mí" dùm đi. Nhà thơ Thanh Thảo thì cả nước biết rồi. Còn "nhà phê bình" Nguyen Van Thinh là... ai, gốc gác ra sao, hay chỉ là một bút danh chung của Ban biên tập tuần báo Văn Nghệ TPHCM?