Hiện tại kinh phí dàn dựng giữa sân khấu nhà nước và sân khấu tư nhân đều ngang nhau ở mức 300-400 triệu cho mỗi vở diễn. Ba vở diễn lấy đề tài lịch sử khiến người xem thích mắt là “Ngàn năm tình sử” của sân khấu IDECAF và “Nỏ thần” của sân khấu Phú Nhuận không thua kém gì khi đặt cạnh “Mỹ nhân và anh hùng” của Nhà hát Tuổi Trẻ. Và có lẽ đây là ba vở diễn đáng lưu ý nhất trong năm 2009 với nhiều điều nên được đánh giá một cách sòng phẳng. “Ngàn năm tình sử” muốn đưa ra một cách nhìn khác về danh tướng Lý Thường Kiệt, còn “Mỹ nhân và anh hùng” muốn phác thảo rõ nét chân dung nữ vương Lý Chiêu Hoàng, nhưng chỉ dừng ở góc độ miêu tả lịch sử, chứ chưa đủ khơi dậy tâm thức hiện đại. Khi xem bất kỳ vở kịch lịch sử nào, thì điều khán giả nung nấu chờ đợi nhất là những diễn ngôn rúng động tâm can người đương thời. Dù hai nhà viết kịch Nguyễn Quang Lập và Chu Thơm đã dồn nhiều nhiệt huyết mỗi nhân vật, nhưng “Ngàn năm tình sử” lẫn “Mỹ nhân và anh hùng” chỉ mới có được những đối đáp chớp nhoáng lý giải mâu thuẫn mà thôi! Còn vở kịch “Nỏ thần” không những không có diễn ngôn mà còn trống trải cả những cảm thức mới mẻ cần thiết của một tác phẩm sân khấu ngoảnh lại quá khứ. Nhiều trường đoạn của “Nỏ thần” chẳng khác gì hoạt cảnh minh họa cho truyền thuyết thành Cổ Loa!
SÂN KHẤU VIỆT TRƯỚC THỬ THÁCH KÉP
TUY HÒA
Năm Kỷ Sửu 2009 có thể xem như một năm sôi nổi của sân khấu Việt, mà hai sự kiện không thể không nhắc đến là Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc và Đại hội Hội Sân khấu VN. Bằng tình yêu chân thành với loại hình nghệ thuật trình diễn đầy lôi cuốn này, đã có không ít lời hoan hỉ và cũng đã có không ít tiếng thở dài. Thế nhưng, đứng trước một mùa xuân mới tràn ngập hy vọng, chúng ta không thể không mạnh dạn nói thẳng với nhau rằng: sân khấu Việt đang đối mặt với thử thách kép: chinh phục thị trường và hội nhập quốc tế!
Gần như đã thành thông lệ, cứ mỗi kỳ hội diễn thì công chúng lại chứng kiến một “cơn mưa” huy chương vàng, bạc các loại. Vở diễn không vì tấm huy chương mà bán được vé, nhưng nghệ sĩ phải trông cậy vào tấm huy chương để hướng tới danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú, Nghệ sĩ Nhân dân. Do vậy, sự nhộn nhịp của Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc 2009 vẫn thấy xuất hiện thực trạng “bên ngoài cười nụ bên trong khóc thầm”. Những ai chờ đợi sự khen tặng thì hoàn toàn mãn nguyện, còn những ai mong mỏi sự đột phá thì lặng lẽ thất vọng. Cái lo lắng tồn tại một giai đoạn khá dài về thế hệ tiếp nối dường như đã được giải quyết một cách tương đối, ví dụ vai trò đạo diễn trước đây quay qua quay lại chỉ thấy Doãn Hoàng Giang, Lê Hùng, Trần Ngọc Giàu… thì giờ đây có thể kể thêm Lê Quý Dương, Hoàng Quỳnh Mai, Đức Thịnh… Thế nhưng, dường như khước từ tính chất xung kích của kịch nói, các vở diễn vẫn xa vời với tâm tư người xem. Khán giả không thể nào cảm nhận được những thao thức của nhịp sống hôm nay trên sàn diễn. Sân khấu lẽ ra phải đi trước cuộc đời để dự báo hoặc tiên liệu những giá trị nhân văn cần vun đắp hoặc những giá trị thẩm mỹ cần nâng đỡ, thì sân khấu tỏ ra vụng về ngay cả chuyện song hành với cuộc đời. May ra có thể kể đến Nhà hát kịch Hà Nội nỗ lực bám lấy những bộn bề thời đại qua hai vở “Điện thoại di động” và “Mắt phố”, còn những gì hiện diện khi tấm màn nhung được kéo lên chỉ là những tình tiết né tránh mọi chuyển động xã hội đang sôi nổi phát triển cùng thế kỷ truyền thông!
Đành rằng nhệ thuật không thể gióng trống khua chiêng để bắt khán giả đến rạp cho nghệ sĩ tuyên truyền cái này, cái nọ. Nghệ thuật không có khán giả thì cũng như không, nhưng cái cách sàn diễn đang nao núng chinh phục thị trường khiến những ai quan tâm đến tương lai sân khấu Việt phải ái ngại. Hết dùng yếu tố sexy lại dùng yếu tố kinh dị, hết dùng yếu tố chọc cười lại dùng yếu tố nhảy múa. Thật chẳng hay ho gì, nếu phải kể tên những vở diễn bông phèng mờ nhạt, nhưng chính bức tranh kịch nghệ không đậm đà màu sắc ấy đã giúp chúng ta dễ dàng nhận ra quá nhiều chi tiết và lời thoại sân khấu chỉ nhằm mua vui cho khán giả mà thôi. Dẫu là hài kịch hay chính kịch, thì vở diễn phải phơi bày được xung đột tính cách, xung đột số phận. Đáng tiếc, tính xung đột trong các vở kịch gần đây rất yếu, do đó kéo theo tính cô động và tính khái quát của sân khấu cũng hụt hẫng dần! Lời cảnh tỉnh nhiều năm rồi chỉ nhận lại vài ba cái lắc đầu ngán ngẩm là sự thiếu vắng đội ngũ viết kịch. Khác với điện ảnh hay truyện hình, đạo diễn dù tài năng đến mấy cũng không thể khỏa lấp sự non nớt cho một kịch bản làng nhàng. Không có kịch bản hay, cũng đồng nghĩa không có vai diễn có khả năng rời khỏi mấy mét vuông sàn diễn để tiếp tục thăng hoa trong suy nghĩ và hành động của giới mộ điệu. Thử hỏi, một nhân vật được xưng tụng biệt danh “quái kiệt” như Thành Lộc đã từng làm khán giả hào hứng bao phen rồi, nhưng có vai diễn nào của Thành Lộc thực sự bước ra cộng đồng chưa? Khán giả nếu nhớ thì nhớ nét duyên của Thành Lộc, chứ chưa thể gọi tên một nhân vật nào do Thành Lộc thủ vai trên sân khấu cả. Điều ấy vừa đáng tiếc vừa đáng buồn!
Tuy chưa có tác phẩm nào được đầu tư tiền tỷ như vở cải lương “Chiếc áo thiên nga”, nhưng chính nở rộ của xu hướng xã hội hóa sân khấu cũng giúp sàn diễn trở nên lộng lẫy hơn với những trang phục và vũ đạo. Hiện tại kinh phí dàn dựng giữa sân khấu nhà nước và sân khấu tư nhân đều ngang nhau ở mức 300-400 triệu cho mỗi vở diễn. Ba vở diễn lấy đề tài lịch sử khiến người xem thích mắt là “Ngàn năm tình sử” của sân khấu IDECAF và “Nỏ thần” của sân khấu Phú Nhuận không thua kém gì khi đặt cạnh “Mỹ nhân và anh hùng” của Nhà hát Tuổi Trẻ. Và có lẽ đây là ba vở diễn đáng lưu ý nhất trong năm 2009 với nhiều điều nên được đánh giá một cách sòng phẳng. “Ngàn năm tình sử” muốn đưa ra một cách nhìn khác về danh tướng Lý Thường Kiệt, còn “Mỹ nhân và anh hùng” muốn phác thảo rõ nét chân dung nữ vương Lý Chiêu Hoàng, nhưng chỉ dừng ở góc độ miêu tả lịch sử, chứ chưa đủ khơi dậy tâm thức hiện đại. Khi xem bất kỳ vở kịch lịch sử nào, thì điều khán giả nung nấu chờ đợi nhất là những diễn ngôn rúng động tâm can người đương thời. Dù hai nhà viết kịch Nguyễn Quang Lập và Chu Thơm đã dồn nhiều nhiệt huyết mỗi nhân vật, nhưng “Ngàn năm tình sử” lẫn “Mỹ nhân và anh hùng” chỉ mới có được những đối đáp chớp nhoáng lý giải mâu thuẫn mà thôi! Còn vở kịch “Nỏ thần” không những không có diễn ngôn mà còn trống trải cả những cảm thức mới mẻ cần thiết của một tác phẩm sân khấu ngoảnh lại quá khứ. Nhiều trường đoạn của “Nỏ thần” chẳng khác gì hoạt cảnh minh họa cho truyền thuyết thành Cổ Loa!
Hai màu sắc đối lập tiếp tục tồn tại trong đời sống sân khấu Việt năm 2009, mà minh chứng rõ nhất là sân khấu tư nhân biết cách chiều chuộng thị hiếu nhất thời của khán giả bằng vở kịch hài hước nửa chừng như “Lùng người trong mộng”, còn sân khấu nhà nước thì không biết cách tiếp thị một vở kịch giàu thẩm mỹ như “Kiều Loan”. Không thể đổ lỗi cho ai cả, và càng không thể trách… cái quầy bán vé. Nếu nhìn đời sống nghệ thuật như một ngư trường mênh mông, thì những người làm sân khấu nước ta chỉ là ngư dân đánh bắt ven bờ. Họ không có lưới to và họ cũng không có thuyền lớn, nên họ có quyền sợ sóng xô, họ có quyền hãi gió giật. Sân khấu Việt muốn chinh phục thị trường đã khó mà muốn tham gia hội nhập còn khó hơn. Làm sao để ngư dân – sân khấu dám đánh bắt xa bờ? Câu hỏi ấy cần phải được trả lời bằng một chiến lược quốc gia. Hai nhà hát có thể trình diễn các vở kịch hoành tráng tại Hà Nội và TPHCM đều đã được xây dựng cách đây ngót nghét 100 năm. Một nhà hát đúng nghĩa cho nghệ sĩ sân khấu vẫn còn nằm trong mơ ước. Muốn có tác phẩm đủ sức thi thố với bạn bè quốc tế, trước mắt không có cách nào khác là triển khai những dự án được Chính phủ trợ lực, mà dự án Trung tâm nghệ thuật biểu diễn quốc gia do Nghệ sĩ Nhân dân Trọng Khôi đề xuất, có thể xem như bước khởi động đầu tiên. Dự án đầy hội hộp kia bao giờ thành hiện thực, thì chúng ta chỉ còn cách hy vọng. Thế nhưng, để hội nhập hiệu quả, chúng ta cũng cần tham khảo mô hình láng giềng. Hiện nay các nhà hát ở Trung Quốc chỉ còn được hỗ trợ khoảng 30% kinh phí hoạt động và sự nghiệp, còn lại là do các đơn vị tự trang trải. Các đơn vị nghệ thuật đều có cơ sở vật chất và kỹ thuật như khách sạn, siêu thị để kinh doanh tăng dịch vụ bù lỗ cho hoạt động văn hoá. Có những nhà hát còn lãi cả triệu đô la Mỹ để hỗ trợ cho sáng tác những tác phẩm đích thực, hợp đồng thuê mướn chuyên gia, tài năng nước ngoài tới cộng tác và tăng thêm thu nhập cho nghệ sĩ.
Sân khấu Việt có thể tự hào về truyền thống lâu đời với rối nước và chèo không hề thua kém nghệ thuật kịch Nô của Nhật Bản hay nghệ thuật Kinh Kịch của Trung Quốc, nhưng sân khấu Việt hôm nay đang thiếu một “tổng phổ” để rực rỡ hơn. Khán giả Việt thì vẫn yêu sân khấu. Khi ánh đèn rạp hát sáng lên, thì khán giả mang đến một ly nước vẫn đầy đủ thiện cảm, chỉ cần thêm một giọt nước để làm tràn rung động của khán giả. Sân khấu Việt vẫn đang tìm kiếm giọt nước lặng lẽ ấy!
Sài Gòn, cuối năm 2009
ĐẶNG NHẬT MINH làm phim như một định mệnh
Nữ sĩ tạo nền móng cho nghệ thuật ca Huế

