Cuộc chờ đợi thật ê chề và chẳng còn tí hy vọng gì nữa. Rõ ra là người ta phản lại lời “thề non, nguyện biển” với mình rồi. Chẳng qua cũng tại mình cả tin, nhẹ dạ. Người ta nhỏ nhỏ, to to những lời đường mật, làm mình chết mê chết mệt mà không biết tâm địa người ta chỉ muốn “ong bướm cho vui”. Nhưng mà này cái đồ bội bạc kia ơi, chim khôn chẳng thoát nổi mồi ngon khiến mắc bẫy thợ săn, sẽ có lúc ngươi bị những lời đường mật lừa lại. Đời còn nhiều sông phải qua lắm. Rồi có lúc người là kẻ nhỡ đò. Đoạn cuối còn gợi một cách hiểu khác: Cô gái tự hối hận tại mình lóa mắt trước cái hào nhoáng bề ngoài. Cứ tưởng trên đời chỉ mình là khôn ngoan, lọc lõi rút cục phải trả giá bởi chính toan tính ấy. Và “cái bến sông kia”  trở thành nơi ghi nhớ mối hận hết đời (có thể hình dung giọng nói rít lên bằng thứ âm điệu của một lời nguyền). Câu cuối cùng “Có lúc... mới nhỡ đò...” gợi ra vô vàn suy diễn về kết cục.




Một truyện ngắn trữ tình hiện đại trong lời một bài dân ca cổ

TẠ DUY ANH

Giữa tối cái đêm hôm rằm
Là cái sáng... giăng suông
Sáng cả cái đêm hôm rằm
Nửa đêm... về sáng
Nửa đêm... về sáng
Để giăng bằng cái ngọn cây tre
Là anh có yêu em ?
Để em... chờ đợi
Để em... chờ đợi
Để bóng giăng (là) em chịu sầu
Là cái bối tương tư
Một nhịp có mấy đôi ba cầu
Bắc Nam đôi ba ngả
Để chịu sầu (là) cái đôi ba nơi
Là cái con chim khôn
Chết mệt về mồi.
Người khôn chết mệt về nhời nhỏ to
Là cái bến sông kia
Có lúc... mới nhỡ đò..
.

Đây là phần lời đã được “văn bản hóa” của bài dân ca Quan họ nổi tiếng “Giữa tối hôm rằm”. Chỉ ngần ấy từ, được một làn điệu đặc chất trữ tình chuyển tải, tạo nên một bài dân ca đặc sắc và hơn thế, còn là một câu chuyện tình hoàn chỉnh, xét dưới góc độ văn xuôi. Người kể chuyện xưng em, chắc chắn nhân vật chính là con gái. Câu chuyện bắt đầu từ “giữa tối cái đêm hôm rằm”. Thời gian rất mông lung mà cụ thể. “Giữa tối” còn bao hàm cả yếu tố không gian, nhưng không gian ở đây chỉ có thể cảm được nó gợi một nơi vắng vẻ, rất phù hợp cho việc hò hẹn. Câu thứ hai tả ánh trăng đồng thời nói rõ về cái đêm ấy. Người con gái đã chờ gần như suốt đêm mới biết “sáng cả cái đêm hôm rằm”. Thoạt đầu nàng còn bồn chồn đi lại, tự dối lòng là chàng sẽ đến. Chàng chỉ mắc công mắc việc, đến muộn một chút thôi? Nhưng đến khi trăng quá đỉnh đầu, trời ngả về sáng mà chàng vẫn “mất hút con chuồn chuồn” thì nàng không còn “bào chữa” cho chàng được nữa. Dấu hiệu của một cuộc lỡ hẹn (hoặc bỏ rơi) đã hiện rõ. “Sao anh không dứt khoát, cứ nửa bước nửa dừng để người ta mất công chờ đợi. Mà chờ đợi là thế nào anh có biết không? Là một mình một bóng nhìn giăng (trăng) tàn nơi cuối trời, lòng ôm nặng những bối tương tư, những khối sầu không làm cách nào cho tan đi được. Bây giờ thì tôi hiểu cả rồi. Chẳng qua vì có kẻ “một nhịp có mấy đôi ba cầu”. Người sẽ chẳng chỉ làm khổ mình tôi. Những người cả tin như tôi cũng sẽ giống tôi. Và cả người nữa, hay ho gì cái giống đa tình...”.

Cuộc chờ đợi thật ê chề và chẳng còn tí hy vọng gì nữa. Rõ ra là người ta phản lại lời “thề non, nguyện biển” với mình rồi. Chẳng qua cũng tại mình cả tin, nhẹ dạ. Người ta nhỏ nhỏ, to to những lời đường mật, làm mình chết mê chết mệt mà không biết tâm địa người ta chỉ muốn “ong bướm cho vui”. Nhưng mà này cái đồ bội bạc kia ơi, chim khôn chẳng thoát nổi mồi ngon khiến mắc bẫy thợ săn, sẽ có lúc ngươi bị những lời đường mật lừa lại. Đời còn nhiều sông phải qua lắm. Rồi có lúc người là kẻ nhỡ đò.

Đoạn cuối còn gợi một cách hiểu khác: Cô gái tự hối hận tại mình lóa mắt trước cái hào nhoáng bề ngoài. Cứ tưởng trên đời chỉ mình là khôn ngoan, lọc lõi rút cục phải trả giá bởi chính toan tính ấy. Và “cái bến sông kia”  trở thành nơi ghi nhớ mối hận hết đời (có thể hình dung giọng nói rít lên bằng thứ âm điệu của một lời nguyền). Câu cuối cùng “Có lúc... mới nhỡ đò...” gợi ra vô vàn suy diễn về kết cục.

Bằng cách hiểu theo cái kết thứ nhất, người nghe trào lên mối thương cảm (với chút trách cứ nhẹ nhàng) về thân phận một cô gái hiền thục, trong trắng nhưng cả tin... để có cớ căm giận gã họ Sở nào đó nhẫn tâm, ích kỷ làm tàn hại một đời hoa còn mới hàm tiếu.
Còn với cách hiểu thứ hai khiến ta có một “truyện ngắn” khác hẳn. Một lời tự thú đau đớn để từ đó rút ra bài học sâu sắc, nhớ đời cho bất kể ai toan tính bằng thứ tình cảm thiêng liêng nhất.

Có thể tiếp tục tìm ra những nội dung khác tùy theo tâm trạng, tình cảm, cảnh ngộ thực tế... của từng người và đó là cái kỳ diệu của nghệ thuật. Tuy vậy điều người viết bài này muốn nói lại không ở những phân tích dài dòng và có phần chủ quan kia. (Việc hiểu rạch ròi đã là chủ quan rồi. Đặc điểm của ca dao, dân cả cổ là không thể (hoặc không dễ) hiểu rạch ròi được. Nhiều khi rạch ròi đồng nghĩa với việc bóp chết một tác phẩm tương tự nào đó). Cái đáng tán tụng ở đây là tính hàm xúc trong một văn bản trữ tình cổ - tiếc là tính hiện đại vậy. Có thể dễ dàng tìm ra những yếu tố đó.

- Bố cục hiện đại

Không chỉ chặt chẽ về kết cấu mà còn về triển khai thể hiện nội dung, ý tưởng. Vấn đề được mở ra sau khi văn bản khép lại.
- Cách kể hiện đại.
Đưa người nghe nhập cuộc ngay từ đầu nhưng lại không cho họ có sự dễ dàng khi bám theo nội dung.
- Ngôn ngữ hiện đại.
Kể ngắn gọn, kiệm lời, tạo ra những chiều liên tưởng rộng lớn ngoài văn bản. Với chỉ ngần ấy chữ mà gom được một không gian, nhiều thời gian, sự giằng co quyết liệt trong tâm trạng với rất nhiều nhân vật (người kể, đối tượng vắng mặt, trăng, bến sông, ánh sáng...) để cuối cùng là nội dung một truyện tình... vừa cụ thể, vừa bí ẩn đa nghĩa. Thật tài tình! Một truyện ngắn vài ngàn chữ chưa chắc đã làm nổi. Mà đây mới chỉ xét phần nội dung - phần phụ của một bài dân ca. Các cụ đáng để hậu thế bái phục mọi nhẽ.


Nguồn: Báo Kiến Thức Gia Đình Xuân Canh Dần 2010


                                                                                                    


| Thảo luận(0) |
Viết Thảo luận
Hình vui
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
Mở HTML
Mở UBB
Mở hình vui
Ẩn giấu
Hãy nhớ
Tên gọi   Mật khẩu   Khách không cần mật khẩu
Địa chỉ web   Email   [Đăng ký]
               

 

Những bài mới nhất