Giáo sư Nguyễn Huệ Chi từ lâu đã được xem như một tên tuổi trong giới nghiên cứu văn học. Là con trai của nhà văn hóa Nguyễn Đổng Chi, giáo sư Nguyễn Huệ Chi nối nghiệp cha với những đóng góp đáng trân trọng cho nền văn hóa nước ta. Bước vào năm 2010, giáo sư Nguyễn Huệ Chi tròn 72 tuổi. Ông cầm tinh con hổ và cũng thực sự có tầm vóc một con hổ trong làng học thuật Việt Nam đương đại, mà không cần có sự hỗ trợ thêm của bất kỳ trang web hay trang blog nào. Không thể kể hết những công trình khảo cứu thấu đáo và thuyết phục của giáo sư Nguyễn Huệ Chi, lethieunhon.com chỉ xin trích giới thiệu bài phân tích về giá trị danh nhân Nguyễn Văn Giai như một hiện tượng tích hợp giữa folklore và văn học viết. Qua đây, bạn đọc có thể thấy được cách tự trào “trên chửa lung lay, dưới chửa mòn” giữa hoàn cảnh "đến khi dầu cạn đèn không cháy, chẳng thấy ăn mày chẳng thấy quan" của tể tướng kiêm nhà thơ Nguyễn Văn Giai có nét khá gần gũi với tâm tư Nguyễn Huệ Chi!




Tể tướng và nhà thơ Nguyễn Văn Giai

NGUYỄN HUỆ CHI


      Nếu xét về văn nghiệp, Nguyễn Văn Giai chỉ còn để lại bốn bài thơ nôm, ít nhiều chưa thật chắc chắn về xuất xứ. Nhưng đó là bốn bài thơ đặc sắc, có giọng điệu và phong cách nghệ thuật khá nhất quán, mà đặt trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII, chỉ chừng ấy thôi đã là một vốn quý của dòng thơ tiếng Việt với số lượng tác giả còn hết sức hiếm hoi. Mặt khác, việc tìm hiểu thơ nôm của Nguyễn Văn Giai không phải là chủ điểm duy nhất của bài này. Bởi tên tuổi ông đã đi vào sử sách như một bậc tể phụ đầu triều lừng lẫy cách đây hơn bốn trăm năm. Lừng lẫy đến mức xung quanh ông có cả một kho huyền thoại được thêu dệt ngay lúc ông còn sống và cứ thế lưu truyền đan xen với sự thật. Vì thế, cả huyền thoại lẫn thơ ca của ông từ lâu đã đan kết với nhau, tạo nên một hiện tượng phức hợp, một hiện tượng “văn sử bất phân”, cần được giải mã. May mắn cho người viết - một hậu sinh có cái vinh dự là người đồng hương với ông, đã được đọc tận mắt tấm bia ghi sự nghiệp của ông do đích thân vua Lê cho dựng lên mấy chục năm sau ngày ông mất, tấm bia cao lớn hiện còn tọa lạc ở xã Ích Hậu, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh nơi sinh quán của ông. Cũng may mắn cho người viết, đã được tiếp xúc với các bậc trưởng thượng chi họ Nguyễn Văn, hậu duệ của ông ở xã Ích Hậu, và nhờ đó mà có dịp đối chiếu mấy bản gia phả cổ của dòng họ này, bắt nguồn từ nhiều bộ thực lục đời Lê và được chép lại vào năm thứ 2 dưới đời Minh Mạng (1821), năm thứ 3 dưới đời Thành Thái (1891) và năm thứ 9 cũng dưới đời Thành Thái (1897). Những gì viết dưới đây là sự phối hợp tất cả những tài liệu thông sử, địa chí, truyện ký, thơ văn với văn bia, phả ký... đó, tuy không hy vọng có thể làm sống dậy một hình bóng đã từng hiện diện với đầy đủ mọi chi tiết sống thực, nhưng ít nhất cũng cố gắng dõi theo nhiều chiều kích khác nhau trên con đường “thiêng hóa” con người này trong lịch sử, nhằm soi tỏ đôi ba nét điển hình nhất, liên quan đến môi trường địa-văn hóa cũng như bản sắc riêng của nhân vật - nói cụ thể hơn là đi tìm một chân dung văn học ẩn hiện thấp thoáng giữa hai xu hướng phóng chiếu trái ngược của truyền thuyết: xu hướng Nho giáo muốn vẽ ông như một tín đồ của Đạo Thánh và xu hướng dân gian muốn tô đậm ở ông những môtip gần gũi với đời sống.

(…)
      Cuộc đời của Nguyễn Văn Giai là cả một pho sử sống của một con người biết cật lực phấn đấu để chiến thắng số phận. Sinh ra vào đêm 22 tháng Chạp năm Giáp dần, tức 14 tháng Giêng năm 1555, ông là người của một vùng quê quanh năm nghèo đói mà tên gọi bấy giờ là Phù Lưu trường, thuộc huyện Thiên Lộc, trấn Nghệ An, nay là xã Ích Hậu, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Phù Lưu trường sau đổi là xã Mỹ Tường, là một trong ba xã nhỏ nằm bao quanh một cồn cát trên đó hình như xưa kia chỉ mọc toàn một loại cây mà người ta dùng để làm chổi xể nên có tên là Cồn Chủi / chổi đọc theo giọng Nghệ. Sau này phần đất của xã Mỹ Tường có cắt bớt đi, chia về cho một vài xã lân cận, còn phần chính thì hợp cùng hai xã nằm quanh Cồn Chủi thành một xã lớn và lấy luôn tên Ba Xã làm tên. Ba Xã nằm cách biển khoảng 7 cây số, có một nhánh sông chảy qua, ăn thông với con sông lớn ở bến đò Kênh Cạn, chạy suốt ra cửa biển Nam Giới tức Cửa Sót, là điểm mút giao thông giữa đường bộ và đường biển trên con đường đi đánh dẹp “Nam man” của các vua chúa thời Lý, Trần, Lê.

Nhưng nơi đây trong nhiều thế kỷ cũng là mảnh đất để cho quân Chiêm Thành thỉnh thoảng tràn sang cướp phá, và còn là bãi chiến trường đẫm máu giữa quân Việt Đàng Ngoài và quân Việt Đàng Trong từng chà đi xát lại không biết bao nhiêu lần thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Vì nhánh sông chảy qua Ba Xã ăn thông ra biển nên mỗi khi triều lên, nước mặn cũng theo sông tràn lên, làm ngập mặn hết các cánh đồng trũng viền lấy mé Đông Cồn Chủi. Trong tình cảnh như vậy, câu chuyện sinh kế của người dân Ba Xã luôn luôn là chuyện bức xúc không phải cho một thế hệ mà triền miên từ đời này qua đời khác. Người Ba Xã làm ruộng quanh năm không bao giờ đủ sống, thành thử đã phải tỏa đi khắp nơi làm đủ các nghề: gánh cá thuê, đi ở mướn, chạy hàng xách, đi chặt cây bổi trên triền núi Hồng Lĩnh về bán gọi là “đi rú”, hoặc lên tận những cánh rừng giáp với Lào ở mạn Hương Khê chặt nứa đóng bè thả về xuôi gọi là “ngược ngàn”... Và rồi không hiểu từ bao giờ đã phát sinh ra một cái nghề cha truyền con nối là nghề... hành khất. Trừ những ngày mùa, ngày giỗ chạp, người dân Ba Xã thường dắt díu nhau đi tha phương cầu thực ở khắp mọi nơi, nhưng nhiều nhất là vùng Đông Thành tức Yên Thành, xưa kia là vựa lúa của Nghệ An: “Đông Thành là mẹ là cha / Đói cơm rách áo thì ra Đông Thành”. Nghề hành khất thuở ban đầu cố nhiên là việc làm bất đắc dĩ của hạng người túng đói. Nhưng rồi kéo dài qua vô số năm tháng, lần hồi nó đã trở nên một thứ tập tục, thậm chí một thứ tín ngưỡng ăn sâu vào tâm linh của cả một vùng. Người ta tin rằng ông tổ của làng thuở xưa ngẫu nhiên được táng vào một khu đất mà con cháu về sau phải nối đời lấy bị gậy làm nghiệp. Bởi thế, có người giàu có hẳn hoi cũng mỗi năm một đôi lần đóng vai khất thực :
Vui bạn nên anh đi ăn mày,
Chứ nhà anh cũng có đủ hai con trâu cày đó em ơi.

      Ăn mày không còn là một việc gì nhục nhã mà đã như một thói quen, một thứ triết lý sống dân gian để cho mỗi người có dịp đặt mình xuống địa vị thấp hèn, nếm trải cho đủ mọi dư vị đắng cay của nhân thế. Chính Nguyễn Văn Giai cũng thừa hưởng được cái triết lý giàu chất hài hước--nhân bản đó của quê hương bản quán. Sau này, khi đã ở vào vị trí một bậc tể phụ, ông vẫn không đánh mất quan niệm sống cân bằng “có vinh cũng cần có nhục” đã in sâu nơi tâm khảm, nó được biểu hiện trong một bài thơ tự trào của ông, nhằm đùa cợt với chính địa vị của mình :
Ba vua, bốn chúa, bảy thằng con,
Trên chửa lung lay, dưới chửa mòn.
Chí chưa thành, danh cũng hổ,
Hòm sẵn đó, chết thì chôn.
Giang hồ / lang miếu, trời đôi ngả,
Bị gậy / cân đai, đất một hòn.
Cũng muốn sống thêm dăm tuổi nữa,
Sợ ông Bành Tổ tống đồng môn .


      Cả bài thơ là một chuỗi cười ngạo nghễ của người tuy già mà vẫn tự tin rằng mình còn rất khỏe (Trên chửa lung lay: hàm răng đang đủ sức nhai để cơ thể chưa đến nỗi rệu rã; dưới chửa mòn: và cái khoản ấy cũng đang giàu sinh lực lắm), quan trọng hơn nữa là già mà vẫn rất tỉnh -- dám gọi xách mé các đời vua chúa thuở bấy giờ bằng những con số trống không để tính đếm như tính đếm đám con của mình. Nhưng cái ý vị triết lý thâm thúy nổi đậm nhất là ở hai câu 5 và 6: Dẫu là kẻ tứ chiếng giang hồ quanh năm mang bị gậy, hay là người khoác cân đai nơi lang miếu của Triều đình, tưởng là hai nẻo trời đối cực đấy, thì cuối cùng, khi đậy nắp quan tài lại, cũng chỉ là một hòn đất như nhau. Hai câu thơ cho thấy cái nhìn cởi mở, bình đẳng của Nguyễn Văn Giai trước mọi loại người, mọi nghề nghiệp sang hèn cao thấp ở đời. Với thủ pháp tiểu đối hai cặp từ kép trong mỗi câu (giang hồ/lang miếu; bị gậy/cân đai), hợp hai câu lại thành hai vế đối hoàn chỉnh, với cách ngắt nhịp 2/2/3 chậm rãi, hai câu thơ được Nguyễn Văn Giai dồn toàn bộ trọng lực vào đấy, như một cách nói nhẩn nha, không cố ý to tiếng, thế mà mỗi tiếng đều gieo vào lòng người đọc một âm vang chắc nịch, khiến ta thấm dần cái chân lý mà nhà thơ đưa ra, không cãi vào đâu được, để rồi chấm dứt bằng một thanh trầm rơi hẳn xuống, làm ta sững sờ vì cái kết cục quá đúng: đất một hòn.
      Cũng cảm hứng này còn trở lại với ông trong bài Đèn kéo quân thâm trầm và chua chát hơn nữa:
Một lũ ăn mày một lũ quan,
Quanh đi quẩn lại cũng một đoàn.


      Phải sinh ra ở một vùng đất đầy ăn mày như Ba Xã rồi trở thành một vị quan lớn, Nguyễn Văn Giai mới có thể thấm thía trò đùa trớ trêu của số mệnh trong việc chuyển đổi thân phận dễ như bỡn giữa quan và ăn mày. Tuy nhiên, điều sâu kín hơn mà ông muốn gửi gắm là trong một cơ chế xã hội lỏng lẻo mà sự vận hành luôn luôn có trục trặc - do chiến tranh, loạn lạc, uy tín của người cầm cân nẩy mực sụt giảm nghiêm trọng và nhiều nguyên cớ khác - thì thân phận giữa quan và ăn mày nhiều khi lại không khác gì nhau, không phải bên này là điều kiện tồn tại của bên kia mà kỳ thực, sự tồn tại của cả hai đều trở nên vô nghĩa :
Đến khi dầu cạn đèn không cháy,
Chẳng thấy ăn mày chẳng thấy quan.


      Bài thơ chỉ có bốn câu, chữ nghĩa khá dung dị, song hai từ ăn mày và quan được lặp lại một cách có dụng ý mô phỏng phép thủ vĩ ngâm tự nó đã trở thành một sức mạnh nghệ thuật nội tại, làm toát lên cái ý tứ sâu xa về sự quẩn quanh, dẫm chân tại chỗ, xoay trở đường nào cũng không lối thoát, trong cuộc nhân sinh chỉ thấy toàn chết chóc, tranh giành giữa phe này phái nọ mà thôi. Ở câu đầu, hai cặp từ một lũ được nhắc lại hai lần, biểu thị cái ý khinh miệt, đặt “quan” vào cùng một địa vị với “ăn mày”. Và sự khinh miệt càng tăng lên tột mức ở hai câu cuối, khi tác giả thay chỗ cho hai cặp từ một lũ bằng hai cặp từ chẳng thấy cũng nhắc đi nhắc lại, như một thứ lộng ngôn hoàn toàn phủ định: Chẳng thấy ăn mày chẳng thấy quan! Tâm sự nung nấu của Nguyễn Văn Giai sau ngày bình xong nhà Mạc, chứng kiến tình cảnh điêu đứng của dân chúng và sự tha hóa quá nhanh của tập đoàn Lê-Trịnh, và việc ông mấy lần cáo lão xin về mà không được, chứa đựng cả trong bốn câu thơ tưởng chừng chỉ là thơ “vịnh vật” đơn giản này.

       Nhưng trong suốt cả một thời trai trẻ cho đến khi đạt được sự nghiệp hiển hách, Nguyễn Văn Giai lại không hề là người yếm thế bi quan. Trái lại, ở ông, cá tính quật cường bộc lộ ngay từ thuở nhỏ. Tiên tổ ông khi còn thuộc dòng trực hệ ông Nguyễn Công Quyền, Tri phủ Diễn Châu vào khoảng đời Trần, đã từng nhiều đời có người đỗ đạt lớn. Nhưng đến đời thân phụ, ông Nguyễn Văn Củng, thì chỉ còn là một anh khóa sinh nghèo. Học hành dở dang, ông phải tìm đến Cồn Chủi vỡ một mảnh đất hoang để dựng nhà trú ngụ. Và Nguyễn Văn Giai đã sinh ra trên chính mảnh đất cồn khô cát trắng này. Tuy nghèo, người bố vẫn gắng chắt bóp cho con theo học. May sao Nguyễn Văn Giai là đứa trẻ đặc biệt thông tuệ, 5 tuổi đã biết chữ, 9 tuổi biết làm văn, 15 tuổi viết bài phú Con trâu trong nghiên mực (Nghiễn trì ngưu phú) nổi tiếng là thần đồng. Lại thêm một may mắn trời cho: ông là người có vóc dáng cao lớn, sức khỏe hơn người, hàng ngày vẫn giúp bố mẹ làm ruộng, và cày mướn cuốc thuê để kiếm hai bữa cơm, tối đến mới vùi đầu vào sách vở. Thỉnh thoảng ông còn đi gánh hàng ở các chợ xa hàng chục cây số lấy tiền mua sắm dầu đèn giấy bút. Theo sách Tang thương ngẫu lục, “một hôm đi gánh thuê về, trời nóng bức, ông lội xuống tắm ở cái ao trước cửa nhà thầy học cùng làng. Trong lúc đang bơi lội, quần áo trên bờ bị đứa vô lại nào lấy mất, ông phải ngâm mình dưới nước mãi không dám lên. Bên kia ao là nhà một ông Giám sinh, có cô con gái ra ao định giặt, nhưng thấy ông đương tắm đành phải quay vào. Một lúc nữa trở ra lại thấy như vậy. Rồi một lúc nữa, cô ra loanh quanh ở bờ ao, bỏ lại trên bờ mấy chục thước vải. Ông biết ý, rất cảm kích, trở lên lấy vải ấy đóng khố rồi đi về nhà. Về sau khi đã thi đỗ, ông đến nhà ông Giám sinh, xin hỏi cô gái làm vợ. Ông Giám sinh nói: “Con bé vô duyên, hôm qua tôi đã trót nhận lời gả cho một cậu học trò của tôi, cũng là bạn đồng khoa của anh đấy. Xin anh đừng lấy làm lạ sao tôi lại từ chối”. Đang lúc trò chuyện thì ông đồng khoa kia đến, hai bên tranh biện mãi không giải quyết xong. Ông nói: “Tôi vốn đã có vợ từ lâu, không phải dám tham sắc đẹp để mua cười với bạn. Chỉ vì thuở còn hàn vi từng được người khuê các để mắt xanh đến, nên tôi đã dốc lòng yêu thương từ đấy. Trời đất quỷ thần hẳn đều soi xét, lòng này có dám mạo muội đâu”. Nhân đấy kể rõ câu chuyện ngày xưa. Ông Giám sinh bèn vào nhà trong hỏi con gái thì con cũng nói như vậy, rốt cuộc đổi ý, vui lòng đem cô gái gả cho ông Giai. Đó là bà phu nhân thứ ba, ông yêu quý như bà cả vậy”. Câu chuyện tình duyên ngẫu nhiên mà thật cảm động, về phía dân gian, như muốn gửi gắm cái ý: nhân vật mà mình tôn xưng ở đây là con người biết chủ động trong tình yêu đôi lứa, biết yêu và cũng có tâm hồn tinh tế để nhận ra đúng người phụ nữ chung tình. Còn về phía nhà nho, hẳn không phải chỉ muốn đề cao cặp mắt xanh của cô tiểu thư “con nhà” đối với người hàn sĩ mà còn muốn nhấn nhiều hơn đến chữ “nghĩa” của một cặp phu thê mẫu mực, có thể làm tấm gương soi cho nhiều đời sau. Đối chiếu với văn bia, Nguyễn Văn Giai có đến mười bốn bà vợ, hai bà Chính phu nhân và hai bà Á phu nhân, nhưng nếu đúng là người cùng xã như Tang thương ngẫu lục nói thì có lẽ đây là bà Nguyễn Thị Viện, không nằm trong hàng Chính và Á phu nhân nhưng lại được liệt kê đầu tiên và được phong là “Quận phu nhân” - bà phu nhân của ông Quận công. Cách xếp đặt khác thường của văn bia xác nhận vị trí quan trọng có thật của bà vợ ba này mà Tang thương ngẫu lục sẽ còn nhắc đến.

      (…)

      Thuở ấy đất nước đang thuộc quyền cai trị của nhà Mạc. Vua Lê do Trịnh Kiểm (1545-1569) phò tá còn ẩn náu ở miền núi rừng Thanh Hóa. Nguyễn Văn Giai được gia đình gửi ra kinh đô Thăng Long tìm thầy giỏi để học tập, nhưng trong lòng chỉ toan tính chuyện phù Lê. Tuổi trẻ, ngông nghênh, lại tự tin ở tài sức của mình, anh còn để lại bài thơ Nói khoác đọc cho bạn bè tâm phúc nghe, trong đó truyền thống “nói trạng” của xứ Nghệ được phát huy đến cực điểm :
Ta con ông Trạng cháu ông Nghè,
Nói khoác trên trời dưới đất nghe.
Sức Hạng Vương tày nửa đấm,
Cờ Đế Thích chấp hai xe.
Lội ngay xuống biển co tàu lại,
Nhảy tót lên non cưỡi cọp về.
Mai mốt đem quân vào phủ chúa,
Ra tay diệt Mạc để phù Lê.


      Bài thơ này cũng như bài thơ kế tiếp ở dưới được ghi lại rất sớm trong gia phả. Vận dụng thủ pháp thậm xưng, khuếch đại, người viết vừa tỏ ý hài hước vừa bộc lộ chí hướng của mình, giữa thời buổi rối ren rất khó chọn một hướng đi. Cho nên đây là thơ “nói chí” nhưng lại không phải loại thơ “nói chí” thông thường mang ngữ điệu trang nghiêm, mực thước, trái lại nó đã phơi bày khá rõ tính cách cá nhân, một dạng cái “tôi” ngông nghênh mà sau này Nguyễn Công Trứ sẽ phát triển lên một bước cao hơn. Cách dùng nhiều từ vựng thông tục (nói khoác; tày nửa đấm; nhảy tót) cho thấy thơ nôm đến Nguyễn Văn Giai đã rời bỏ dần mạch ngôn ngữ tao nhã của thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm ở thế kỷ XVI (ngoài Nguyễn Bỉnh Khiêm ra, không còn người nào khác để có thể so sánh). Về mặt này ông là người mở đường để rồi đây những người sau kế tiếp và với Hồ Xuân Hương thì đã là một bước nhảy triệt để trong việc biến “cái thông tục” thành “cái thẩm mỹ”.

      Vốn là anh học trò áo vải, cái rét ghê gớm của xứ Bắc giữa mùa đông tháng giá đối với Nguyễn Văn Giai là cả một cực hình. Ông thường nằm co quắp trong quán trọ vào những ngày buốt giá, đến nỗi quân lính nhà Mạc đi tuần cũng không buồn dậy. Một lần gặp một toán quan quân võng lọng đến các quán xét hỏi, thấy ông vẫn nằm im, lính tuần liền quát mắng. Ông chống chế: “Kẻ hàn sĩ xa nhà phải nằm cho đỡ lạnh, đâu dám khinh mạn bề trên”. Viên quan Chấp kim ngô nghe ông xưng mình là học trò bèn bắt ông phải làm bài thơ Nằm co, lấy chữ “cuồng” làm vần. Ông không nghĩ ngợi lâu, ứng khẩu đọc liền:
Ba gian lều cỏ, một mình truồng,
Rét phải nằm co há có cuồng.
Cá nọ xẹp vi miền Bắc hải,
Rồng kia uốn khúc mé Nam dương.
Lòng trung hiếu, bo còn giữ,
Hội công danh, cuốn chửa giương.
Có khuất bao nhiêu thì có duỗi,
Ra xuân đầm ấm sẽ buông tuồng.


      Đây cũng là một bài thơ “nói chí” dưới hình thức khoác lác giống như bài thơ trên, nhưng điểm đặc sắc về mặt ngôn từ là câu nào cũng mang nghĩa đen hoặc nghĩa bóng chỉ người nằm co đúng với đề tài định trước, lại sử dụng vần “cuồng” khá chuẩn, có cả những từ sỗ sàng “vỗ mặt” kẻ ra đề mà vẫn rất lịch sự, đồng thời còn kín đáo bày tỏ được khí phách cứng cỏi và cái ngông của mình. Nếu hiểu theo nghĩa bóng thì hai chữ “mình truồng” đã dẫn đến những liên tưởng nghịch ngợm trong cách dùng chữ ở các câu sau như cuốn/giương; khuất/duỗi..., kể cả những lời tuyên bố tưởng chừng nghiêm túc mà xem ra cũng ẩn giấu một nét cười cợt: “Lòng trung hiếu bo còn giữ” (trong một cơ thể trần truồng thì cái bộ phận được giữ kín nhất ấy là... “lòng trung hiếu” !). Theo gia phả, vị quan nhà Mạc nghe xong bài thơ hết sức ngạc nhiên, ban tiền và áo quần cho ông rất hậu, khuyên ông nên vào học ở nhà Thái học. Sau đó ít lâu, có lần ông dạo chơi Hồ Tây, trên đường gặp xa giá vua Mạc Mậu Hợp (1562-1592) cũng đi du lãm. Ông không né tránh mà cứ thẳng đường đi tới. Đám quân dẹp đường thấy vậy quát tháo, ông cự lại: “Bậc vương giả “du quan” còn người nho giả thì “du học”, chúng bay sao được cấm càn ?”. Viên quan theo hầu thấy lạ bèn cứ thực tâu lên. Mạc Mậu Hợp xuống chỉ đưa ông về nơi đài tạ giữa hồ để nhà vua tự mình xét hỏi. Nhờ tài ứng đối trôi chảy, Nguyễn Văn Giai được vua tha bổng. Nhân khi đang hứng vua Mạc ra cho ông vế đối:
                   Ao Thanh Trì nước xanh leo lẻo, cá lội ngắc ngư
Chỗ khó của vế đối này là cách chơi chữ lắt léo, dùng từ đồng âm Hán Việt để lặp lại nghĩa tiếng Việt: Thanh Trì ứng với ao xanh; cá ứng với ngư. Nguyễn Văn Giai cũng tìm ra một vế đối có cách chơi chữ tương tự để đối lại, trong đó Ngân Hà ứng với sông bạc; vịt ứng với áp đều là từ đồng nghĩa:
                   Sông Ngân Hà sao bạc lăn tăn, vịt nằm ấm áp
      Mạc Mậu Hợp lại ra cho ông một vế đối khác mà sự lắt léo lần này là ba chữ đầu nói về cái chày nhưng đều chỉ tên ba giống cá, ứng với chữ “ngư” ở giữa và chữ “cá” ở cuối cùng :
                 Chày cháy trôi sông, bác ngư ông ngỡ cá
Ông lại cũng tìm ngay ra một vế đối tương hợp, có ba chữ đầu nói về thời gian của người đi biển, nhưng chính là tên ba vì sao, ứng với chữ “tinh” ở giữa và chữ “sao” ở cuối câu :
                  Hôm mai vượt biển, tài tinh tướng xem sao
      Vua Mạc cực lực tán thưởng, muốn cất nhắc ông ngay, nhưng Nguyễn Văn Giai khéo léo khước từ. Thực tế chưa chắc Nguyễn Văn Giai đã có cuộc gặp gỡ với Mạc Mậu Hợp thật, bởi một nho sinh nghèo vô danh tiểu tốt được bệ kiến vua đâu phải dễ. Nhưng có phần chắc nhà nho đưa truyền thuyết này vào cốt làm nổi bật năng khiếu văn chương đột xuất cũng như thái độ bất hợp tác với Mạc từ sớm của ông, mặt nữa cũng để chứng tỏ vua Mạc phải nể sợ trước một thư sinh nghèo hèn, chưa xứng tư cách “bề trên” của một đấng thiên tử. Nhìn dưới con mắt tiếp nhận của hôm nay, chúng ta hẳn có cách nghĩ trái lại -- đây là truyền thuyết bắt nguồn từ một sự thật : triều đại Mạc vốn tương đối khoan dung và do không xuất thân từ một dòng họ “lá ngọc cành vàng” nên trong cung cách giao tiếp đối đãi cũng ít lễ nghĩa cố chấp mà khá bình dân (giống như triều đại Trần thuở ban đầu).  
       Năm 1571, nhân khoa thi của nhà Mạc mở ở Sơn Nam, Nguyễn Văn Giai dự thi và đỗ Giải nguyên. Nhưng vì trong lòng cứ tâm niệm chuyện phù Lê, ông không dự tiếp thi Hội mà tìm đường trở về quê quán. Mãi 7 năm sau, trong niên hiệu Quang Hưng thứ hai đời vua Lê Thế Tông (1579), nhà Lê mở khoa thi ở Thanh Hóa, ông mới lại ra thi, và lại đỗ Giải nguyên. Hai năm sau nữa, nhà Lê mở khoa thi Hội đầu tiên ở sách Vạn Lại, ông đi thi tiếp, đỗ Hội nguyên, rồi vào thi Đình đỗ luôn Đình nguyên Hoàng giáp. Ngay trong năm ấy ông được bổ Hàn lâm hiệu lý nhưng rồi có việc bị mất chức về nhà dạy học trong sáu năm.

(…)

      Gia phả dựa vào một bộ “di lục” chép lời bình luận tổng quát về Nguyễn Văn Giai : một con người cương trực, khí tiết, luôn luôn giữ đúng “tam quy” chốn quan trường là thanh thận cần -- thanh liêm, thận trọng, cần mẫn; giữa Triều đình nói năng không tránh né mà vẫn được cả vua lẫn chúa vì nể. Cũng sách Tang thương ngẫu lục còn cho biết, thời kỳ ông nắm giữ công việc Tể tướng, uy nghiêm khét tiếng, “các bậc thân quý của vua chúa đều phải nín hơi không ai dám làm càn. Một vị Quận mã, con rể của chúa đi đánh trận thua chạy, ông bắt bỏ ngục rồi xử vào tội chết. Chúa muốn tha nhưng rất khó nói, cầu đến dụ chỉ của nhà vua, cũng vẫn không lay được ý định của ông. Bấy giờ ông có nhiều vợ, có đến năm, sáu bà, địa vị hầu như là bà Chính phu nhân, duy có bà Ba là người được ông yêu dấu. Bà Quận chúa vợ Quận mã bèn đem châu ngọc, nhờ bà Phó mẫu -- người dạy bảo mình hồi nhỏ -- dẫn đến thăm bà Ba và kể việc Quận mã. Bà Ba từ chối mà rằng: “Tướng công tôi là người thanh liêm thẳng thắn. Việc lớn của Triều đình tôi đâu dám dự”. Quận chúa cố nài thật thảm thiết, bà Ba bèn bảo : “Nếu vậy sáng mai, Quận chúa hãy cho đem một con lợn nhỏ luộc chín, một mâm xôi thổi nếp cái, và kèm cả tương dấm dao thớt nữa, lựa lúc tướng công tôi đi vắng đưa vào”. Quận chúa mừng rỡ cảm ơn. Sáng hôm sau, sắp sửa vào triều, ông bảo dọn cơm sáng để ăn. Bà Ba nói: “Trong triều bây giờ các quan đã đến đầy rồi. Tướng công hãy vào rồi về sẽ xơi cơm thì hơn”. Ông lên kiệu đi. Lúc ở trong triều về thì bụng đã đói ngấu, thấy cái lồng bàn đang đậy, mở ra, sẵn dao và thớt, thái ngay thịt lợn ăn lẫn với xôi, chỉ một lúc hết nhẵn. Ăn xong ông chợt hỏi: “À, những thứ ấy ở đâu mà có thế nhỉ ?” Bà Ba kể duyên do. Ông rất tức bực, lúc lâu mới nói: “Ta lầm lỗi rồi! Ta lầm lỗi rồi! Nhưng vì một bữa ăn no mà làm sống một mạng người, chẳng cũng bởi trời hay sao?” Liền lên xe vào phủ xin tha cho người có tội. Chúa mừng rỡ nghe theo ngay”. Nếu truyền thuyết ăn khỏe nói ở phần trên là của dân gian, khai thác cái mặt hồn nhiên, “tính trời” trong tư chất của Nguyễn Văn Giai, cùng những hệ quả tích cực của tư chất ấy khi ông hành xử trên cương vị một ông quan lớn, thì truyền thuyết ăn khỏe đến đây lại được nhà nho tiếp tục ở khía cạnh phê phán: Nguyễn Văn Giai đã chịu hậu quả xấu của “thói phàm ăn” bởi ông đã không theo đúng phương châm ăn uống cẩn trọng của đức Thánh Khổng “thịt không cắt vuông không ăn”. Đủ thấy, dù là một con người đã đến tầm cỡ bậc thánh như Nguyễn Văn Giai cũng vẫn không tránh hết mọi lầm lỗi. Tuy vậy, cũng bởi đã đạt đến bậc thánh nên đây chỉ là chút tỳ vết do vô tình mà mắc phải, như một cảnh báo của ông trời (“Thiên yếm chi, thiên yếm chi” -- Luận ngữ, “Ung dã”). Vì thế, dẫu là vô tình trong việc ăn một con lợn luộc nhỏ và một mâm xôi, đối với người cầm cân nẩy mực thuở xưa đã mang ý nghĩa một hành vi tham nhũng đáng phải tự răn, cũng lại phải đánh đổi bằng việc xin tha cho một vụ trọng án. Người chép truyền thuyết muốn nhắn nhủ: sự giữ mình của các bậc quyền cao chức trọng thời xưa thật đáng trọng mà cách giữ chữ tín cũng thật đáng trọng.

       (…)

            Nguyễn Văn Giai, con người rất hiểu nhân tình thế thái, và cũng là người cư xử với người đầy lòng nhân hậu, ấy vậy mà trong việc “tề gia”, chính ông lại bị thói quen của người chuyên việc chấp chính, đặt “hệ tư tưởng” của đấng cầm quyền lên trên mọi sự, dẫn đến những quyết đoán không thấu tình đạt lý. Ông đã không vượt được cái bóng của mình. Ở phần kết cục này thì cả truyền thuyết nhà nho và truyền thuyết dân gian đều hội tụ lại để có chung hai hàm nghĩa: vừa nâng ông lên một tầm thước quá kích cỡ con người bình thường, đúng như chức năng của truyền thuyết là “một truyện kể với tính cách dị thường, trong đó những sự kiện lịch sử được biến đổi bởi trí tưởng tượng dân gian hoặc bởi sự sáng tạo thi ca” (Encarta, mục “Légende”, 2003) nhằm gây niềm tin thần thánh, nhưng cũng vừa làm cho hình ảnh ông có phần xa lạ với cái phần “người” của thế nhân. Rất có thể đấy là tấm gương khúc xạ của một thời kỳ lịch sử mà mọi hành vi thái quá đều do lịch sử quy định.



| Thảo luận(5) |
Tiến Đặng Email
16/01/2010 21:46
Rất hạnh phúc trong đời có một người thầy như GS Nguyễn Huệ Chi. Điều ấy ít nhiều Tiến Đặng có được. Ngay từ những năm 80 của thế kỉ trước, thật hạnh phúc, được nghe Ông giảng về Thơ Thiền thời Lí, hồi ấy, Ông cùng các cộng sự đang biên soạn Thơ - Văn Lí Trần mà. Có thể nói, những gì Ông viết đều đáng đọc và đáng cho ta suy ngẫm.
Thời nào cũng vậy, nước ta luôn có những trí thức tử tế. Ông Nguyễn Huệ Chi là một trong số không nhiều trí thức như vậy, nhất là trong mấy năm vừa rồi.
LÚA NGÔ KHOAI SẮN
16/01/2010 14:31
Giáo sư Huệ Chi bỏ học thuật đi làm "siêu học thuật", tưởng hay, hóa... "siêu hay", đáng phục đáng phục.
Mấy lần cứ định tìm Giáo sư để thỉnh giáo chuyện chữ nghĩa, nhưng thấy sự nghiệp "cứu khổn phò nguy" đang... lâm nguy, lại thôi.
Chỉ biết ngửa cổ than mãi: Trời đã sinh ra Chi, sao còn sinh ra... bauxite!
dân quê
16/01/2010 10:45
Nghe nói, câu thơ "Trên chửa lung lay, dưới chửa mòn" là dạng viết, chứ dạng đọc miệng cho nhau nghe, câu này đọc "trên" là "răng", "dưới" là "dái", chẳng úp mở gì cả, nghe rất sướng. Phan Khôi bàn về câu này cứ khen mãi cái vẻ khỏe khoắn, tráng kiện của người-thơ.
Vũ Tiến
14/01/2010 20:16
Hãy bình tĩnh và cố lên, bác Huệ Chi ơi!
Hoàng Ngọc Thuận
14/01/2010 19:53
Kính chúc giáo sư Nguyễn Huệ Chi dồi dào sức khỏe, để đóng góp nhiều hơn nữa cho nền văn hóa nước nhà!
Phân trang 1/1 Trang đầu 1 Trang cuối
Viết Thảo luận
Hình vui
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
Mở HTML
Mở UBB
Mở hình vui
Ẩn giấu
Hãy nhớ
Tên gọi   Mật khẩu   Khách không cần mật khẩu
Địa chỉ web   Email   [Đăng ký]
               

 

Những bài mới nhất