Thơ trẻ và sự chuyển động
(Tham luận tại Tọa đàm Nhà văn Trẻ - Hội nghị quốc tế Giới thiệu văn học Việt Nam)
TRẦN QUANG QUÝ
Có muôn vàn khái niệm, định nghĩa về thơ từ Đông-Tây, Kim-Cổ. Nhưng dường như người ta vẫn chẳng hiểu nàng thơ là cái gì, dù đôi khi người ta muốn quy nạp vào một hệ thống cấu trúc, đặc trưng ngôn ngữ, cơ chế xuất sinh nhưng đó là những quy ước chủ yếu là ước lệ, nửa vời vì làm sao đo đếm được dòng mạch của tâm hồn, những mãnh lực gớm ghê, tinh quái, ma thuật của thi tứ mà ngay các bậc đại thi tiền bối Trung Hoa phải thốt lên một cách mộng mị, bất lực “thi trung hữu quỷ”. Nàng thơ là gì mà mê hoặc, mà lao tâm khổ tứ, mà lẩn thẩn ngô nghê, mà rạo rực thăng hoa, mà quên ăn quên ngủ… Trong nỗi buồn cùng thẳm, trong cô đơn tuyệt vọng người ta cứ tựa vào nàng. Trong cảm xúc thăng hoa, trong rạo rực tình yêu, hay kí ức mờ xa len lén gọi về người ta cũng lại thổ lộ cùng nàng. Thậm chí có lúc người ta phát dại, người ta muốn tung chăn, cởi phăng quần áo… không sợ thẻ phạt của tiềm thức, thẻ phạt của dư luận và tinh thần văn hóa, trong đống vỏ ngôn ngữ ướt át hay héo khô, cũ kĩ hay tân kì; lúc thì thút thít, lúc lại gào lên sự thèm muốn cùng nàng, đặc biệt là những người trẻ, lứa những nhà thơ Việt Nam mà ngày nay xính chữ, người ta vẫn hay gọi là 7X, 8X!
Ở xứ Việt Nam, nàng thơ dường như lại càng nổi trội tính “lộng hành” như người ta vốn biết. Có thể do đặc trưng ngôn ngữ Việt vốn giàu âm điệu, sẵn chứa hồn thơ, nhưng có lẽ đấy là tiếng vọng không dứt của số phận một dân tộc đã trải quá nhiều binh biến, biến cố, cả những tù túng triền miên của xã hội ít chuyển dịch, mang hơi khí làng xã. Và vì thế, tâm hồn thơ Việt, người Việt luôn dào dạt, luôn đông đảo tình thơ, đông đảo men thơ nhập thế. Hàng ngày có rất nhiều tập thơ được in ra, cả chuyên và không chuyên, cả những cậu bé mới học phổ thông cho đến những công chức đã về hưu mới bắt đầu làm thơ, nhập gia cùng các nhà thơ trẻ “triển vọng”. Và nếu gọi sự mới xuất hiện là trẻ, thì đấy cũng là những mầm thơ các cụ. Làm ở Nhà xuất bản Hội Nhà văn, rất nhiều tập thơ, tạng thơ như thế được cấp phép hàng ngày, chúng tôi vẫn nói vui là nên lập “trại cai thơ”, và ai lập được trại cai thơ chắc có nhiều lợi tức, chắc “thắng to” trên thị trường “chứng khoán thơ” đầy may rủi!
Ấy là các nhà thơ tự giễu nhại mình cho tăng hài khí vậy thôi, có ai cai được sự quyến rũ của thơ, vì đó là bản “tổng phổ” của tâm hồn. Tự thân nó có nhu cầu được thổ lộ, được giải tỏa, được viết ra bằng câu chữ và cùng tồn tại như một thực thể của cõi nhân này trong hệ thống ngôn ngữ biểu cảm của chính nó. Không biết điều này có khác với Thế giới, khác với các nền thơ mà tôi được nghe, được đọc đây đó trên báo chí, trong một tâm trạng lo âu rằng, “nàng thơ” bản địa của họ đang giãy chết, người ta không còn muốn đọc thơ nữa? Và như một đòi hỏi tự thân như đã nói trên, thơ Việt Nam vẫn cứ kế tiếp một cách đông đảo các thế hệ. Hội Nhà văn hàng năm kết nạp dỏn dẻn so với nhu cầu tham gia tổ chức Hội quá lớn, là một minh chứng cho thơ Việt vẫn có đất, vẫn khát vọng phát triển. Thậm chí trong lịch sử, có lúc vì nhiệm vụ chính trị, thơ còn vè hóa để truyền đạt một tư tưởng, một nhiệm vụ cấp bách, một tình thế liên quan đến số phận của cả dân tộc, mà nó lại vào dân, kích thích được khí thế của dân, thế mới tài.
Và mỗi thế hệ, tự thân, đều muốn khẳng định tư chất thơ, nền tảng gốc rễ của tư tưởng, quan niệm và hệ thống mỹ cảm nội hàm. Điều đó không có gì xa lạ vì thơ là cái riêng nhưng lại có âm hưởng, nhu cầu giao thoa cộng đồng. Giao thoa thế hệ, giao thoa Quốc tế. Thế hệ thơ hậu 1975, là thế hệ khai móng cho đổi mới thơ, nếu có cái gọi là đổi mới thơ; và cũng là lứa các nhà thơ sáng tác đang sung sức, có thành tựu hiện nay, cũng vậy. Thế hệ những nhà thơ 7X, 8X, tạm gọi là “Thơ trẻ” cũng vậy. Thậm chí, như tôi đọc được trong một văn bản của một nhà thơ trẻ nói rằng, thế hệ họ muốn “chôn” thơ các thế hệ trước. Tức họ đang biểu thị một tinh thần quật khởi của Thơ trẻ. Và chúng ta theo dõi xem họ quật khởi ở cái gì, ở chỗ nào, họ có làm “cách mạng” thành công hay không?
Tôi nói ý trên là vì có ý kiến băn khoăn rằng, có nên gọi là thơ đổi mới hay không. Như Nguyễn Quang Thiều, tập thơ đầu tay “Ngôi nhà mười bảy tuổi” của ông là giọng thơ trữ tình giãi bày, cảm xúc lãng mạn, còn vân vi truyền thống, nhưng đến “Sự mất ngủ của lửa”, ông viết hoàn toàn khác, thậm chí có người cho là thơ “Tây dịch”, thì mới gọi là đổi mới; nhưng lứa Phan Huyền Thư, Văn Cầm Hải, Ly Hoàng Ly… thì thốt thơ ra đã thế rồi, vẫn thế, sao lại gọi là đổi mới?
Tôi không tranh luận với người đưa ra ý kiến này, nhưng nó lại gợi ra rằng, sự vận động xã hội, tâm thế xã hội, lối sống cộng đồng, tốc độ phát triển… là nhân tố cơ bản làm thay đổi giọng điệu, cấu trúc, hình thức, cảm hứng thơ. Nghĩa là, đã đến lúc lớp trẻ phải tương thích với hơi thở của cuộc sống đương đại, phải tìm “giọng” của thế hệ mình, biết gĩa từ những thứ cũ mòn, những điệp khúc cứ lặp đi lặp lại quen tai. Nói như một nhà thơ mà tôi biết là, không “lưu ban thế kỉ” (Tôi cũng được ông xếp vào loại “không lưu ban thế kỉ”). Tất nhiên, có những người trẻ nhưng đã sớm lưu ban, và có nhiều nhà thơ thế hệ chúng tôi mà lớp trẻ cũng phải xem lại mình xem đã bị lưu ban đến nơi hay chưa?
Phải nhìn nhận, lớp các nhà thơ trẻ đã và đang mang đến cho thơ Việt một phong vị ngôn ngữ mới. Có những phát hiện mới cho ngữ nghĩa. Lớp trẻ hăm hở tìm tòi, và muốn khẳng định mình. Sự tìm tòi ấy tác động không nhỏ đến ngay nhiều nhà thơ thế hệ cầm bút trong chiến tranh trước 1975. Tất nhiên không ai hy vọng sự quẫy đạp chuyển cánh ở lứa những nhà thơ tuổi 60, 70, họ đã làm xong những giá trị của thế hệ, nhưng ít nhất có những chuyển động đồng thuận trong hơi thơ, mạch thơ, cả cấu trúc. Thơ trẻ táo bạo trong câu chữ và khát vọng bày tỏ cái tôi bản thể, có thể quên cả cộng đồng, và cả cái tôi tính dục nở rộ (chỉ là một hiện tượng trong thơ) như sự khát thèm lâu lắm mới bung gia. Còn nếu nói “cách mạng tình dục” thì phải ngưỡng nhìn Hồ Xuân Hương, từ những thế kỉ trước xem có lạ lùng, táo bạo, có giễu nhại, có thú vị, có hiện đại “như các cụ” hay không? Nên nhớ là xã hội “các cụ” ấy đã cách đây hàng thế kỉ.
Nhưng quan trọng hơn cả là trong hồn vía của Thơ trẻ luôn cảm thấy có một năng lượng, có động lực tiềm ẩn trong mạch thơ, trong sự chuyển động của thơ. Có khi nó không rõ đó là động lực nào, nó nhằm thúc đẩy khao khát, trí tưởng tượng, hay chỉ là sự tò mò, thời thượng, kiểu cách? Nhưng quả nó có hấp lực nội tại của thơ. Bởi thế, đâu đó khoảng hơn mười năm trước, khi có xuất hiện của Thơ trẻ (kể cả những nhà thơ thuộc thế hệ hậu chiến) đã có người dự đoán sẽ có một cuộc cách mạng thơ vào đầu thế kỉ XXI.
Tuy nhiên, cho đến nay vẫn không có một cuộc cách mạng thơ nào cả, mà chỉ là những khởi phát chuyển động mới, rất đáng khích lệ, trân trọng và thúc đẩy. Có lẽ phải chờ đợi lâu nữa, trong một biến cố xã hội rộng lớn, mới kì vọng sự xuất hiện cuộc cách mạng thơ Việt ấy chăng? Ngay cả những nhà thơ truyền thống cũng đang chờ xem Thơ trẻ có “chôn” được mình không, thì câu trả lời là không. Những giá trị văn hóa tinh thần, hồn cốt thơ ca, từ truyền thống đến hiện đại vẫn có một sợi dây đồng cảm ở ngay trong huyết mạch nó, trong máu của cộng đồng. Mặc dù, nhiều người trong lớp trẻ và cả lứa những nhà thơ hậu chiến, những nhà thơ có thành tựu văn học, vẫn tìm tòi cả các hình thức thể hiện, từng gây nhiều tranh cãi, như Tân hình thức, Tân cổ điển, Hậu hiện đại, Thơ sắp đặt, Thơ tự do, Thơ trình diễn, Thơ ý niệm và biểu tượng…; có những nhóm thơ còn tung hứng ngôn từ, đảo câu nghịch phách, tự nhiên như nhiên, giễu nhại, bông lơn, tục hóa…để tạo sự mới lạ, để “chôn” truyền thống, hoặc những thứ đã nghe mãi rồi, nhưng xem ra tất cả những nỗ lực ấy, hoặc đã nguội dần, hoặc mới dừng ở sự thể nghiệm lẻ tẻ, chưa thành tấm thành món. Giờ thì những tranh cãi gì đó cũng vào hồi im lặng trong tư biện, trong cá thể, tự minh. Giống như sự im lặng và ngủ lâu của lí luận, phê bình văn học từ vài thập kỉ nay. Nó được thay thế bằng những cuộc giới thiệu sách, cả bốc thơm mang tính hữu hảo bạn bè.
Trong một cuộc hội thảo về thơ trẻ, nhà thơ Vũ Quần Phương, Chủ tịch Hội đồng Thơ của Hội Nhà văn Việt Nam nói: “Thơ Thế giới cũng như cái váy của đàn bà, lúc ngắn lúc dài, lúc rộng lúc hẹp, quanh đi quẩn lại nó vẫn là cái váy”. Câu nói của ông hàm ý, mọi hình thức thơ thế giới đều đi cả và nó thế thôi. Cái quan trọng của thơ là nó có mới trong nội dung, tư tưởng, biểu cảm, ngữ nghĩa hay không. Nhưng quan trọng hơn thơ có ám ảnh người đọc hay không. Thơ hay là thơ gieo được một thứ âm vang thanh mảnh, mà ngân mãi và ám ảnh mãi trong tâm thức người đọc. Đọc những cây bút Thơ trẻ gần đây, thấy họ vẫn tìm tòi, thể nghiệm, đa dạng nhưng chưa định hình, và lúng túng. Có tác giả dường như lại bắt đầu quay về những câu thơ dung dị, có đời và dễ cảm hơn. Điều này được tóm lược từ cuộc hội thảo về các tác giả “Thơ trẻ-360 độ”. Nhưng một bộ phận lớn Thơ trẻ ít đời, ít trải nghiệm, nghiệm sinh. Họ viết như một sự được “thể hiện” một cách dân chủ, viết nhiều về tính dục, về sex như một sự tù hãm húy kị giờ mới thực sự được giải phóng, đòi công lí. Nhiều khi họ bế tắc, mờ mịt trong những câu chữ là lạ, hoang ảo, tối nghĩa. Và đặc biệt, bài thơ ấy nhằm trao cho người đọc một tín chỉ tình cảm, cảm xúc, chia sẻ hay một triết lí nhân sinh nào đó thì khó luận ra quá. Có người, khi đọc chỉ có cảm giác như họ xính kiểu cách mà thôi.
Người ta bảo thơ Mỹ đang trong cơn hấp hối, là vì đời sống của thơ bị cạnh tranh bởi nhiều loại hình truyền thông. Và xã hội Mỹ, một xã hội công nghiệp phát triển, tốc độ thời gian và quỹ thời gian luôn căng thẳng nên người ta cần biết ngay, hiểu ngay, không có thời gian để chiêm nghiệm qua đặc trưng ẩn dụ, biểu tượng, ngẫm ngợi, ý tại ngôn ngoại của thơ. Nên việc làm rắc rối sự hiểu lại càng làm cho thơ xa dần người đọc, trong một xã hội cũng đang nhiều biến chuyển, đang thách thức bởi xã hội công nghiệp mà Việt Nam đang hướng tới.
Có một sự đổi mới là trở về giản dị, càng giản dị càng hiện đại, cứ tưng tửng như không lại, và thực ra rất khó viết. Như ta vẫn thấy những mốt nhà tỉa tót hoa văn, ban công uốn sắt hình bu gà thập niên 90 ở Hà Nội, giờ là những cái nhà lỗi mốt một cách thảm hại lắm. Cũng chẳng việc gì phải “chôn” truyền thống, vì cái gì không hay thì tự nó chết, đấy là cõi huyền vi của thi thánh, của đất trời. Và một xã hội hiện đại là xã hội cùng đồng hành nhiều phong cách, nhiều tiếng nói, nhiều giọng điệu, nhiều gương mặt.
Tôi mượn ý của nhà thơ Thanh Thảo để nói thay đoạn kết này: “Thơ phải mới mẻ qua từng dòng, qua từng bài, nhưng thơ chẳng bao giờ là “mốt”. Bởi, làm gì có “mốt” số phận?”.
| Thảo luận(3) |
Những bài mới nhất
Cận cảnh Thơ Đến Từ Đâu
HOÀNG NGỌC HIẾN đọc Thơ Đến Từ Đâu


Thời tiền chiến vừa qua,lớp trẻ lật đổ được lớp già trong lĩnh vực thẩm mỹ nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng....Ấy là do lớp trẻ lúc ấy là sản phẩm của một nền tân học đang mang trong mình nó sự vượt trội nền cựu học già nua lúc bấy giờ.
Còn hôm nay?
Lớp trẻ của chúng ta đang từ trong một nền "biệt học","thôn xã học" ," hang động học" bước vào kinh đô học thuật của thế giới.
Lớp trẻ ngày nay chỉ có thể làm chiếc cầu dao thế hệ cho lớp trẻ tiếp theo sau nữa mà thôi.Hay nói cách khác,trong điều kiện tốt nhất,chỉ tới lớp con của những người đang ở vào lớp tuổi 7x,8x ngày nay thì mới có thể hy vọng...
Dân tộc ta bị lưu ban thế kỷ quá lâu nhưng hiện nay có vẻ vẫn còn chưa nắm vững được bài vỡ cho một kỳ thi mới mà ở đó không còn ai khảo sát kiến thức về câu "Quân quân,thần thần,phụ phụ,tử tử "của ông giáo họ Khổng chỉ từng học chính thức tới lớp 4 trường làng cách đây mấy ngàn năm nữa...