TRẦN NHUẬN MINH NGƯỜI BAY BẰNG CHÂN
TRẦN MẠNH HẢO
Nếu có thể ví thi ca là của cải tinh thần, thì Trần Nhuận Minh ăn về đường hậu vận, một người giầu muộn. Giờ tuổi đã ngoại ngũ tuần, ông mới xây được lầu thơ, mới có của ăn của để. Bằng chứng là tập thơ tuyển Nhà thơ và hoa cỏ, do Nhà xuất bản Đồng Nai tái bản lần thứ bảy, năm 1997 của ông, vừa được tặng Giải thưởng loại A của Tổng Công đoàn Việt Nam và Hội Nhà văn Việt Nam, cùng với ba tác giả tiểu thuyết khác.
Cách đây ba mươi năm, lúc người em ruột của ông là Trần Đăng Khoa bỗng hoá thần đồng thơ, thì Trần Nhuận Minh đang ấp úng trong cái tên Trần Bình Minh, còn rất nghèo, phải đi nhặt vỏ bom Mĩ về làm thơ, hệt như một người đi lượm ve chai thơ vậy. Khoảng năm 1967, lần đầu tiên chúng tôi được đọc bài thơ của Trần Bình Minh trên báo Văn Nghệ: Tiếng kẻng vỏ bom của ông tôi, số đặc biệt Thơ ba năm chống Mĩ cứu nước, do nhà thơ Chế Lan Viên chọn và giới thiệu. Có đà, Trần Bình Minh làm thơ hăng như cuốc đất. Với cái tên sáng chói như rạng đông, ông thả hồn lên giời như chim, hết làm mây gió lại làm trăng sao. Ông bỏ làng quê giun dế cho người em ruột, để đánh đu với các thiên hà, đi mò thơ trong vũ trụ như người mò tôm cá. Nhưng rồi Trần Bình Minh sững lại, tỉnh lại trong cơn say vay mượn của buổi ban đầu, để nhận ra rằng giời cao, mây trắng, hạc vàng, gió thoảng, bến mê, bờ mộng, hư vô, phù du, phù chú… thảy đều có chủ, đều đã có những Thôi Hiệu rủng rảng trên đầu, thảy đều không phải tạng mình. Ông nhảy bổ về mặt đất làm con chim cánh cụt, làm con đà điểu bay bằng chân, dứt khoát không dang hai tay ra làm “chim bay, cò bay” nữa, mà quyết định đi bằng đôi chân trần để tìm thi tứ. Ông đổi tên thành Trần Nhuận Minh để trộn tí ban mai và tẹo hoàng hôn ẩn náu trong tên mình vào bụi than đen lấp lánh ánh Quảng Ninh vùng mỏ, chui xuống hầm lò cùng người thợ làm cuộc hoá thân lao khổ. Ông thề rằng, dù có leo lên giời cũng cứ chỉ đi bằng chân, thủng thẳng từng bước, mặc những chú thỏ, chê thơ ông là con rùa vần điệu.
Hành trình của Nhà thơ tới hoa cỏ, tới mồ hôi nước mắt của đời sống, nơi Trần Nhuận Minh sau hàng chục năm dằn vặt, tự tước đi đôi cánh vay mượn hoa hoè hoa sói một thời, là một hành trình thương khó, để đi từ cái hư đến cái thực. Có thời, nhà thơ Xuân Diệu, sau khi đã lên tới chót vót hư ảo bởi dòng thơ lãng mạn, bỗng nêu ra một khẩu hiệu, một tiêu chí thơ cho lớp trẻ: “Chân, chân, chân. Thật, thật, thật” được khá nhiều người ủng hộ, nhưng cũng lắm kẻ chê bai. Rằng thơ thì cứ phải là “Hư, hư, hư. Ảo, ảo, ảo” như Thơ thơ, Gửi hương cho gió ấy chứ! Nhưng, trong hành trình thi ca, cứ đi hết cái hư ảo của Lí Bạch tất sẽ gặp cái chân như của Đỗ Phủ và ngược lại. Ai bảo Lí Bạch chỉ thuần lãng mạn và Đỗ Phủ chỉ thuần hiện thực? Một số bài thơ chân dung khá hay của Trần Nhuận Minh trong Nhà thơ và hoa cỏ là cái chân đã tới tận cùng, chợt thăng hoa theo phép “bay bằng chân” của bút pháp hiện thực phương Đông.
Chúng tôi không có tham vọng phê bình cả tuyển tập Nhà thơ và hoa cỏ bề thế, nhiều tầng nhiều vỉa này, chỉ muốn thông qua mảng thơ chân dung trong tập, hi vọng tìm ra chút hành trình thơ, vất vả và sảng khoái của Trần Nhuận Minh, may ra không bị lặp vào ý tứ của những người đã viết về ông trước đó. Trần Nhuận Minh đạt được những thành công nhất định trong thể thơ ngũ ngôn với giọng thù tạc truyền thống, dù có bước tới bảy bước như Tào Thực đi chăng nữa, thì cũng đều là bảy bước CHÂN, tuyệt không lẫn một mảy vu vơ, mơ mộng, hệt như bác đánh giậm trong bài thơ Ông Vọng:
Ông cứ lơ mơ tin tưởng
Đời ông sẽ có cái gì
Chân đất, đầu trần, quần cộc
Kìa, ông lại vác giậm đi…
Hình ảnh ông đánh giậm này thực đến lơ mơ, cứ xoay xoay vào lòng người đọc niềm thương cảm về kiếp người, hơn mọi nỗi thương cảm mây bay gió thổi trên trời dưới đất. Nó dung dị, chân mộc và ròng ròng như chính cái bình thường, thậm chí cái tầm thường, lên tiếng hát. Như là Trần Nhuận Minh, vác chiếc giậm thơ đi theo những kiếp người bị quên lãng, đặng ở nơi gió và nước chảy đi mất, nhẫn nại đánh mớ tôm tép của xót xa và rung động tặng người đọc.
Bài thơ Thím Hai Vui là bài thơ chân dung viết theo phép “bay bằng chân” hay toàn bích của Trần Nhuận Minh. Thím Hai Vui chỉ có tám khổ thơ ngũ ngôn, như một lời kể chuyện, tịnh không để lộ chút tài hoa bay bướm nào trên câu chữ, mà đọc xong, sao lòng nhói mãi, thương mãi, cảm mãi, thậm chí vẩn vơ, ngơ ngác đến cả mây trời. Cái thực đến tận cùng, một khi đã được hoà tan trong cảm xúc và rung động của người đọc, có thể sẽ bay qua vượt nghìn trùng hư ảo. Bởi cái hư ảo dễ bay lên xanh veo, còn cái chân thật tưởng rất khó bay bổng. Nhưng khi được đốt cháy và thăng hoa, nó sẽ bay vào bên trong, bay vào thế giới nội tâm, có khi còn vô tận hơn vũ trụ bên ngoài. Chúng ta hãy theo thím Hai Vui, qua tám khổ thơ của Trần Nhuận Minh, để thông qua một kiếp người cụ thể mà bắt gặp hồn vía một thời:
Những năm chú ra trận
Thím buồn vui một mình
Thím bảo những năm ấy
Là những năm hoà bình…
Trong chiến tranh, thím tìm thấy hoà bình, vì thím còn niềm tin yêu và hi vọng để vượt qua mọi đau thương, mất mát:
Có tin đồn chú mất
Thím thầm cắn chặt môi
Nuôi hai con ăn học
Cấy cày đến quắt người…
Chiến tranh đã vắt cùng kiệt thân xác người đàn bà hậu phương này, nhưng hồn vía lại hoá vầng trăng theo bước người chồng ngoài mặt trận: Mặt chinh phu trăng rõi rõi soi (Chinh phụ ngâm). Nên khi chàng sống sót trở về, người đàn bà hạnh phúc tưởng không còn là mình nữa:
Bỗng đột nhiên chú về
Tung huân chương đầy chiếu
Thím cười mà như mếu
Nước mắt chả buồn lau…
Rất nhiều người lính sống sót trở về sau chiến tranh để thành người chồng chung thuỷ, thành người cha mẫu mực và người công dân tốt. Nhưng trong trường hợp thím Hai Vui, thói công thần, thói vô đạo đức thời hậu chiến, cái ung nhọt của chiến tranh, giờ mới có cơ mưng mủ, đã biến người đàn ông kiêu binh này thành tai hoạ, như một hội chứng hậu chiến đổ lên đầu thím Hai Vui:
Thế rồi… biết vì đâu
Yên lành, không chịu được
Vợ con, chú đánh trước
Xóm giềng, chú đánh sau!
Chớ dại mà can chú
Chú nhất cả huyện rồi
Giặc nào chú cũng thắng
Có thua, thua ông trời…
Hoà bình về với mọi người, nhưng chiến tranh bây giờ mới đến với thím. Một cuộc chiến tranh của vô ơn và phản bội, của ăn cháo đá bát, đã giết chết niềm tin yêu, giết chết quyền được hưởng hạnh phúc, không chỉ của một con người:
Chú đòi phải li dị
Mỗi con về một nơi
Thím hát như kẻ dại
Miệng mếu lại thành cười…
Ngòi bút Trần Nhuận Minh tuồng như nén lại, trần trụi đến tàn nhẫn, trước nỗi đau khổ đến điên dại này. Ông chỉ vẽ mà không vời, phác mà không hoạ, kể mà không lể, buông mà không bắt, nhìn mà không ngắm… một thực tại, một kiếp người, nén không gian của các khe chữ vào, cho đến lúc phải bật máu, bật ra khổ thơ cuối cùng, như hoa quỳnh, suốt cả bảy khổ trên còn ơ hờ ngậm miệng, giờ không thể nín được, mới oà ra ở phút không ngờ nhất:
Nghe đâu thím lên tỉnh
Rửa bát cho người ta
Thấy ai quen cũng lánh
Những mặt phấn quần hoa
Ngay cả nỗi điên dại tưởng là chốn nương thân cuối cùng đã từ chối thím, trả thím về cõi tỉnh táo đời người, để tiếp tục bị nỗi đau khổ hành hạ. Lúc thím Hai Vui tủi nhục quá mà lánh mặt người quen biết, ấy chính là lúc tác giả bài thơ tìm tới, nhận mặt bao người không quen, những người đã đọc bài thơ này, để trao cho họ trọn vẹn hồn vía thím Hai Vui, như trao vào tay chúng ta, chút lương thiện và lòng tốt bị từ chối, còn đang lang bạt, phiêu linh khắp chợ cùng quê. Rằng ai đó, sao nỡ phản bội và vô ơn với con người, với nhân dân, với những niềm tin yêu hi vọng của một thời hi sinh và gánh chịu, đến thế? Thím Hai Vui rất thực, chợt như được thi ca trừu tượng hoá, khái quát hoá, xúc động hoá, chắp cánh bay qua mọi giới hạn để vào lòng thương cảm của người đọc, tạo ấn tượng mạnh như một nghi hoặc, một giấc mơ, một niềm ngơ ngẩn. Nhà thơ đã dắt cõi thực đi vào cõi mộng lúc nào không hay. Bài thơ kết thúc rồi mà như chưa kết thúc. Khi cái thực đã đến tận cùng thì chính là lúc bắt đầu của nghệ thuật. Khi mặt đất không còn chịu nổi tốc độ của mình, cũng chính là lúc cái máy bay phải vọt lên giời vậy.
Trong bài thơ Ngẫu hứng, Trần Nhuận Minh có hai câu thơ thật hay, viết về mối quan hệ nhân quả, bồ bịch giữa cây và gió, giữa khách thể và chủ thể, một cái nhìn lạ và sâu, như một tiêu chí nghệ thuật ngầm của tác giả:
Chẳng biết gió nói gì với mình
Cây vẫn cứ lắc đầu và gật...
Nhà thơ hầu như đã chọn cho mình một lối đi khá oái ăm, chênh vênh không ra chênh vênh, lắt lẻo không ra lắt lẻo: ông như gió, lại không như gió, ở giữa cái gật và cái lắc đầu của cây, của tạo vật. Ông vừa phải làm nhân, lại vừa phải làm quả. Ở cái chốn mơ hồ không tên kia, ông phải tìm không chỉ ra danh tính, mà còn phải tìm ra hồn vía đối tượng của nghệ thuật, hệt như phải tìm ra lửa trong băng tuyết. Chỉ bằng một số câu chữ ngắn, thơ chân dung của Trần Nhuận Minh là cả một câu chuyện, một cuộc đời, được kết tinh lại, cô lại, theo kiểu vũ trụ cô trên đầu giọt sương. Người săn đuổi những câu thơ hay, có thể sẽ thất vọng, khi đọc thơ chân dung của ông. Những câu thơ hay như kiểu:
Cây cỏ vô tình nhuốm nỗi dở dang em
Gió thổi suốt đêm trăng mười bảy tuổi…
(Tím biếc)
thật tình rất khó tìm trong tập thơ này.
Tạng của Trần Nhuận Minh không tài hoa, bay bướm, ở chiều ngang câu chữ, mà dồn nén, chân mộc, gợi, sâu, đầm đìa, trong chiều dọc toàn bài. Ông tâm huyết, truyền nội lực ở từ, chứ không phải ở câu, ở thần, chứ không phải ở thái. Do đó, bình cái hay của lối thơ chân dung nơi ông, thật khó, vì trích ra từng câu cục bộ, sẽ không thể đạt được cái thần của toàn bài. Ví dụ như trong trường hợp bài thơ Mợ Hữu, tuy không toàn bích như bài Thím Hai Vui, nhưng cũng là một bài thơ khá hay của tác giả. Chồng của mợ, xây xong ngôi nhà ba tầng cho mợ, thì kiệt sức, thì “lặng im” mà chết. Anh em bên chồng đến chịu tang, thấy ngôi nhà to đẹp mà lo, lo nhà thì ít, mà lo mợ còn quá trẻ đẹp thì nhiều. Nhớ thương chồng nhưng vụng:
Thương cậu, mợ không biết khóc
Thỉnh thoảng lại hờ một câu…
Biết đâu, Trần Nhuận Minh lại không mượn hình ảnh mợ Hữu, để nói về chính bản thân mình, cũng là nói về nỗi bơ vơ của khách tài hoa:
Chẳng thiếu kẻ đe, người ướm
Nhà xinh mợ lại càng xinh
Như con thuyền nan không bến
Lênh đênh trong chính phòng mình…
Mợ Hữu hay chính hình ảnh nhà thơ lúc nào cũng phải lênh đênh trong chính cõi thực, thực đến tê người, thực đến hoa mắt? Tôi ngờ rằng, tác giả đã khát quát được nỗi tự đoạ đày của cánh nhà thơ chúng ta. Cứ phải lênh đênh trong chính tâm hồn mình, trên chiếc mủng (thuyền nan nhỏ) quá đỗi vu vơ, như cô Bổng:
Lấy cái vu vơ làm mủng
Chở sao qua cuộc bạc đầu…
(Cô Bổng)
Phải chăng, tác giả đã dùng chiếc thuyền nan vu vơ, để chở cái thật của hồn người, nên cái thật không còn hoàn toàn là cái thật nữa. Nó đã hoá thân vào cuộc tình dễ sợ của dì Nga, sau hơn nửa đời gắn bó với chồng con, bỗng bất ngờ tháo hết vòng vàng trả lại, chỉ mang bản thân mình đi theo anh thuyền câu lênh đênh sông nước:
Chồng dì làm cảnh sát
Phóng xe tìm khắp nơi
Cứ như dì mọc cánh
Đã bay đâu lên trời…
Nhà thơ chia sẻ với dì Nga, hay chia sẻ với chính mình, vì đã có thời, ông bỏ rơi cái mộng ảo từng ăn nằm với mình chí ít cũng vài mươi năm, để đi theo cái chân thật của nghệ thuật, cũng là của hồn vía của thi ca:
Chả biết dì sung sướng
Hay là dì khổ đau
Nửa đời, ừ… sao nhỉ
Họ không tìm thấy nhau…
Chúc mừng dì Nga đã tìm thấy một nửa của cuộc đời mình, trên chiếc thuyền câu cá vược lênh đênh, giữa hư thực đất trời, cũng là chúc mừng Trần Nhuận Minh, sau khi đã li dị cái hư, để lấy cái thực làm tình nhân, để có một chùm thơ chân dung hay, khoảng trên mười bài trong tuyển tập Nhà thơ và hoa cỏ.
Ngoài những bài kể trên, còn có những bài khá hay như Bá Kim, Ông Hủi, Bạn cũ, Bạn hưu… Lối thơ chân dung mộc và sâu này của ông, theo giọng thù tạc, rất khó viết. Viết nhiều, tất khó tránh khỏi những trùng lặp, thậm chí khi thần hồn đuối, rặt có nói không, thì sẽ rơi vào nôm na, đơn giản. Thơ chân dung của ông, có lúc, có nơi, có thể còn trùng lặp, còn thô vụng, nhưng là cái nôm na thô vụng của chính đời người. Người thợ kim hoàn tuyệt vời là Tạo Hoá kia, đôi khi còn xuất xưởng những tác phẩm chưa hoàn chỉnh, nữa là thơ ca của đám người trần, mắt thịt chúng ta. Sống hết lòng với cái chân thực của cõi người, hoá ra Trần Nhuận Minh đã có được cả cái hư ảo của trời đất.
Một người chịu học, chịu đọc, thấu hiểu lẽ đời:
Tại trời hay tại ta sao
Nhảy ra thì thịnh. Bước vào lại suy…
(Bạn chơi từ thuở quàng khăn đỏ)
Nhưng Trần Nhuận Minh không bao giờ coi nghệ thuật thi ca chỉ là trò chơi nghệ thuật vô nghĩa lí, như quan niệm của chủ nghĩa hiện đại phương Tây, mà không ít người đang đua đòi, bắt chước. Trong lúc một vài cây bút trẻ đang tung toé bản thân mình trên đấu trường của ngộ nhận về thơ siêu thực, một phương cách thơ đã bị loại thải ở phương Tây, bảy tám mươi năm trước, thì việc giới thiệu, biểu dương trường hợp thơ chân dung, thơ hiện thực trần trụi của Trần Nhuận Minh là điều bổ ích lắm thay!
Thông qua thơ Trần Nhuận Minh, chúng tôi không hề bài xích cái hư ảo là yếu tố sinh tử của thi ca, mà chỉ muốn đề cao vai trò muôn năm của cái Thật, của cái Chân, như bao giờ cũng là xuất phát điểm của cái Thiện và cái Mĩ. Tách cái Mĩ ra khỏi cái Chân, tách cái Hư ra khỏi cái Thực, theo tiêu chí của chủ nghĩa siêu thực, chính là phương cách cắt đi đôi chân của con chim nghệ thuật, có khác gì cắt đi đôi cánh - bầu trời. Cơ sở của đôi cánh nghệ thuật hư huyền kia, chính là đôi chân nhỏ nhoi của con chim, mà khi bay, nó phải giấu cho thật kín.
Nghệ thuật, dù có khi là tia nắng quái hư ảo đến kinh hoàng, nhưng vẫn là tia nắng rất thật của đời, như cảm giác về một thế giới bay bằng chân của cõi Dịch, trong bốn câu thơ đầy hội hoạ của Trần Nhuận Minh, cuối bài Thăm bạn:
Lòng băn khoăn không dứt
Bỗng thèm một chén trà
Cuối trời tia nắng quái
Cháy kinh hoàng sau ta…
Hồn vía nghệ thuật thi ca Trần Nhuận Minh vốn là tia nắng ấm áp. Biết đâu, có lúc thi ca ông, có thể sẽ tìm ra phương cách biểu hiện khác lạ, cũng là nắng thôi, nhưng là tia nắng quái làm giật mình người đọc đến kinh hoàng?
Nguồn: Rút từ cuốn sách “Trần Nhuận Minh ba lần định vị thơ” sắp xuất bản
| Thảo luận(10) |
Những bài mới nhất
PHẠM TIẾN DUẬT thơ say miền đất lạ
LÊ KHÁNH MAI không chỉ là giọng biển


Cuộc chơi này kết thúc ở đây được rồi . Nên mở ra cuộc chơi khác có khi thú hơn
Ấy là...
Nhân có ý kiến của ông Đồ Nghệ, tôi đề nghị LTN.c nên cop lại bài của Thích Tuỳ Duyên viêt về đôi câu đối của cụ Vũ Khiêu ở Tỉn Kheo và đôi câu đối ở Ngã ba Đồng Lộc cho anh em ta ngắm chơi cho đỡ buồn. Tôi đọc câu đối Đồng Lộc trên TN,c rồi, thấy Thích Tuỳ Duyên nói rất đúng, Phải nói là đáng xấu hổ vì tác giả của nó ( chắc không ghi tên) không hề biết làm câu đối và ban lãnh đạo duyệt đôi câu đối này cho khắc lên đền Đồng Lộc cúng không biết Câu đối là gì, nên họ làm liều vì " điếc không sợ súng".Cứ như tôi nghĩ, cũng như đề nghị của Đồ Nghệ, tôi thấy nên rỡ đôi câu đối Đồng Lộc ra , thà cứ để cột không còn hơn vì nó không phản văn hoá như có câu đối RỞM kia trát vào
Tôi đề nghị rỡ câu đối của cụ KHIÊU ra và không nên bóc lột cụ, cụ cũng lẩm cẩm vì quá già rồi
Tôi rất cảm ơn LTN và đề nghị đăng ý kiến này là vì văn hoá trong văn hoá, vì danh dự quốc gia, nhất là ở những nơi linh thiêng
Da ai lam duoc nhu the chua
Nay toi ho PHAM day. noi giua lang cho vui thoi
Tôi rất cảm ơn LTN.C đã cho bạn đọc chúng tôi đọc lại bài này để cùng một lúc hiểu được cả hai tài năng trong số các tài năng của nền văn học ta hiện nay.