NSND Nguyễn Đình Nghi - người thầy sân khấu suốt đời tôi
NGUYỄN THỊ MINH THÁI
Đạo diễn Nguyễn Đình Nghi (1928-2001), sinh thời chưa bao giờ là thầy tôi theo nghĩa thông thường. Bởi tôi chưa hề được nghe ông giảng bài như một vị giáo sư trên giảng đường đại học. Cho đến cuối năm 2000, đầu 2001, ông lâm bệnh trọng. Trước lúc mất, khi ông quyết định thu xếp thời gian đã còn rất eo hẹp của mình để trò chuyện với tôi kỹ càng, cẩn trọng, thẳng thắn và cho phép duy nhất tôi thực hiện cuộc đối thoại cuối cùng ấy để đăng báo, tôi mới ngộ ra: Từ nhiều năm nay, tôi đã được ông coi là bạn vong niên, trong tư cách người đối thoại với ông về những vấn đề luôn nảy sinh trong sự phát triển rất gập ghềnh, trắc trở của số phận nền sân khấu Việt hiện đại, nhất là trong phạm vi nghề đạo diễn; nhất là trong hai thập niên cuối thế kỉ XX, kể từ những năm 90, khi sân khấu lớn mất ngôi, buộc phải nhường ngôi cho sân khấu nhỏ sinh thành. Đến lượt nó, sân khấu nhỏ đã tự nhiên mà thành giải pháp tình thế, cứu nguy cho cả nền sân khấu Việt hiện đại bị khủng hoảng người xem. Và sự khủng hoảng này vẫn dài dài cho đến nay, vẫn đang là bài toán phải tìm lời giải, dù đã sắp kết thúc thập niên đầu thế kỉ XXI.
Tôi hoàn toàn không biết rằng, bài viết của tôi về cuộc đối thoại ấy với Nguyễn Đình Nghi, nhan đề "Tương lai của sân khấu Việt Nam thuộc về thể loại kịch", đăng trên số Tết Tân Tỵ, Báo Lao Động xuân năm 2001, lại là cuộc đối thoại về nghề sân khấu cuối cùng giữa ông và tôi trên báo chí; như cử chỉ đẹp cuối cùng ông dành cho tôi, với ý tứ sâu xa, đó là những lời nhắn nhủ cuối chót mà ông có thể dành cho không chỉ một mình tôi, với tư cách một người làm lý luận phê bình sân khấu. Những lời nhắn ấy của ông là những lời tâm huyết gửi đích danh địa chỉ: cho tương lai của sân khấu kịch hiện đại Việt Nam đang ở phía trước, mà trong tương lai ấy ông biết chắc thân xác ông không còn hiện hữu, song tác phẩm sân khấu do ông đạo diễn sẽ có thể còn lại với cuộc đời ...
Tôi lại càng không biết đấy là bài học sân khấu cuối cùng mà tôi có thể nhận được từ ông. Và chính lúc ấy, tôi mới thực sự biết là mình đã mất một người thầy sân khấu rất đặc biệt, mà những gì học được từ ông, tôi có thể khai thác, sử dụng, chiêm nghiệm một cách hàm ơn cho đến hết đời mình. Cùng niềm thương tiếc vô bờ, tôi biết rõ mình sẽ không bao giờ còn được đối thoại với ông, cùng ông lo âu, bàn bạc, kiếm tìm giải pháp, hy vọng cứu nguy cho sân khấu Việt hiện đại, cùng ông nóng lòng sốt ruột xem mặt những vở diễn của ông chào đời ngày đầu tiên, cùng ông khấp khởi chờ đợi những kịch bản mới của Tào Mạt, Nguyễn Đình Thi, Lưu Quang Vũ...
Thế là Nguyễn Đình Nghi đã về cõi, bỏ lại nơi "ở trọ trần gian" đã thấm thoắt gần mười năm. Hà Nội sắp 1000 tuổi, ông không còn được thấy vở "Rừng trúc" mà ông đạo diễn lần cuối có thể được diễn lại trong dịp đại lễ trang trọng này. Và tôi, cùng với dàn diễn viên Nhà hát Tuổi Trẻ, nhất là Lê Khanh trong vai Lý Chiêu Hoàng biết chẳng bao giờ được ngồi cùng với thầy Nghi sôi nổi bình luận về vở diễn, khi tấm màn nhung đã khép... Ông đi rồi, tôi mới biết ông từng lặng lẽ theo dõi, vun đắp và truyền giảng cho tôi về cái đẹp khác thường vô song của tác phẩm sân khấu, vốn được tổ chức và cấu trúc đặc thù bởi những nhân vật kịch được diễn bằng người thật, ngay trước mắt khán giả, trên sàn diễn hẹp mấy chục mét vuông, mà chứa chan hỉ nộ ái ố của cả cuộc đời rộng rinh, bằng hình thái tự nhiên của cuộc đời...
Càng không ngẫu nhiên, khi ông kí thác vào cuộc trả lời phỏng vấn cuối cùng của tôi trên báo Lao Động điều tâm huyết nhất dành cho diễn viên kịch Việt Nam thế kỉ XXI, khi ông mạnh mẽ khẳng định: Tương lai của sân khấu Việt Nam thuộc về thể loại kịch và yêu cầu tôi lấy tuyên ngôn này của ông làm đầu đề bài báo. Ông nhấn mạnh: "Dù chúng ta không đẻ ra thể loại này, song lại rất yêu thích tính hiện đại của thể loại kịch ngay từ những thập kỉ đầu thế kỉ XX. Kịch đã được Việt Nam hoá, trở thành món ăn đầu bảng của công chúng sân khấu và nhất định sẽ là như vậy". Bằng tiên cảm của một đạo diễn hàng đầu trong thể hệ vàng đạo diễn sân khấu Việt hiện đại, đặc biệt yêu thích công việc dàn tập với diễn viên trên sàn gỗ, ông thiết tha và cẩn trọng dặn dò diễn viên kịch về những hành trang mang theo TK XXI, nếu muốn sân khấu Việt phát triển chuyên nghiệp và "hiện đại hoá" lành mạnh. Theo ông, hành trang ấy nhất thiết phải gồm "4 thứ":
1. Lòng yêu nghề
Ông sâu sắc lý giải: Sân khấu là một nghệ thuật chuyên nghiệp, phải yêu nghề lắm mới học được nghề và hành được nghề trên sân khấu. Tôi vẫn nghĩ sân khấu là một nghệ thuật cực kì thiêng liêng, như "thánh đường" vậy, nên người làm nghề phải có mục đích "vị sân khấu" mới được. Trong cái vị sân khấu này, có luôn cả vị công chúng nữa. Người sân khấu không làm kịch cho công chúng thưởng thức thì còn làm cho ai?
2. Kĩ năng nghề nghiệp cao và tính kỉ luật cao
Ông nghiêm khắc yêu cầu điều này, bởi lẽ: Tôi không bao giờ tin vào những diễn viên không giỏi chính cái nghề mà họ đã lựa chọn và quyết định dấn thân. Sẽ không bao giờ có vở diễn hay của đạo diễn, vai kịch hay của diễn viên, nếu họ không tinh thông nghề đạo diễn và nghề diễn xuất.
3. Cảm hứng sáng tạo
Theo ông, không có cảm hứng thì không có đời sống thực sự của vở diễn và nhất là vai diễn. Lao động sân khấu của diễn viên đòi đúng giờ trong kỉ luật vở diễn. Vì vở diễn không chỉ của diễn viên trên sàn diễn, mà là tổng hoà sáng tạo của nhiều người khuất mặt sau vở diễn, đó là tác giả, đạo diễn, hoạ sĩ, nhạc sĩ, hậu đài... nên không thể có chủ nghĩa cá nhân và những ngôi sao chỉ muốn mọc một mình trên sân khấu.
Vậy, ông thấy cần phải mang theo hành trang thứ tư:
4. Tính không vụ lợi và lòng hy sinh lớn lao của người làm sân khấu thế kỉ XXI
Ông dặn điều này, bởi ông chứa chan hy vọng: Thế kỉ mới sẽ vắng bóng những người đem sân khấu đi bán như món hàng kiếm lợi nhuận, hoặc chỉ coi khán giả có tiền mới là "Thượng đế".
Sống chết vì nghề sân khấu, cả đời hy sinh cho sân khấu, đó có thể là tài sản quý mà những diễn viên sân khấu thế kỉ mới(XXI) được thừa hưởng từ những diễn viên tiêu biểu của TK XX... So sánh với những dặn dò và hy vọng của đạo diễn Nguyễn Đình Nghi, thực trạng sân khấu thập niên đầu TK XXI, nhất là trong lĩnh vực biểu diễn của diễn viên kịch quả là còn nhiều bất cập, song, buộc phải thấy rằng, "những lời không nói trên sân khấu" ấy đã được nói ngay trước khi mất của ông năm đầu thế kỉ XXI này đã là những bài giảng bằng vàng cho tôi, với tư cách kẻ hậu sinh.
Đặc biệt là kết thúc của bài viết này, khi tôi hỏi "ông nghĩ gì về thế hệ đạo diễn trước ông, mà tiêu biểu là cha ông: đạo diễn Thế Lữ, và nhất là thế hệ sau ông, họ sẽ làm gì cho sân khấu kịch Việt TK XXI?", thì ông Nghi mỉm cười chậm chậm và đột nhiên, ông khép lại cuộc phỏng vấn, theo cách hóm hỉnh:
"Tôi xin kể một câu chuyện thay vì trả lời. Tôi nhớ một thần thoại Hy Lạp kể rằng, nhân vật Panđora được giao cho cầm một cái hộp của trời, trong đó đựng nhiều bí mật trần gian. Thế rồi, bất cẩn, Panđora đánh đổ cái hộp xuống đất. Tất cả tung toé, nhiều mảnh vỡ tai ương chướng hoạ. Panđora đau đớn tưởng rằng chiếc hộp đã trống rỗng, mọi thứ đã rơi ra hết. May sao khi đóng lại chiếc hộp bị bung nắp, Panđora ngó thấy một thứ chưa bị rơi mất, đó là hy vọng..."
Đấy đúng là hai chữ mà Nguyễn Đình Nghi muốn để lại. Có lẽ đây chính là bài giảng cuối mà ông đã để lại cho không chỉ tôi: hy vọng là một thứ đừng bao giờ đề đánh mất ... Bài học cuối cùng này luôn luôn nhắc tôi về tất cả những gì ông đã từng truyền giảng cho tôi mà không mang theo bất kì hình mẫu sư phạm thông thường nào khiến tôi có cảm giác mình đang bị "lên lớp" và nhọc nhằn trả bài một cách gượng ép và máy móc.
Ngay khi viết bài đầu tiên về ông, đăng trên Tạp chí Sân khấu 1978, tôi đã định "vẽ"chân dung văn học cho ông theo cách viết xưng ngôi "tôi" trần thuật quen thuộc của tôi, kiểu "ký báo chí", thì ông đã thủng thẳng bảo tôi sao không chọn cách đối thoại có phải hơn không. Ông nhấn mạnh: đối thoại chứ không phải là hỏi đáp. Tôi bằng lòng ngay vì thấy có lý khi ông thiết lập một quan hệ đối thoại thẳng thắn và không kém phần đáo để, cũng vốn là ý thích của tôi khi viết bài. Và sau một tuần làm việc, tôi đã viết xong bài đầu tiên về ông nhan đề: "Đối thoại với Nguyễn Đình Nghi về nghề đạo diễn". Bài viết dài cả vài ngàn chữ ấy, đã được chính ông xem lại, biên tập, và theo tâm sự về sau của ông, đã giúp ông phát ngôn về nghề đạo diễn một cách khoa học, minh bạch, khúc chiết, khiến ông hài lòng trong suốt những năm tháng về sau.
Và ông còn hài lòng hơn, khi thấy tôi đã phát ngôn được trên vai trò của mình, không phải như một kí giả kịch trường nữa, mà cao hơn, với tư cách người thưởng ngoạn. Bình luận nghệ thuật sân khấu, có nghề, có khả năng môi giới cái đẹp cho một nghề còn mới mẻ và rất quan trọng cho sự vận hành chuyên nghiệp của sân khấu Việt hiện đại, đó là nghề đạo diễn. Cũng từ thời điểm đó, tính đến hôm nay, đã hơn 30 năm trôi qua, tôi đã hành nghề sân khấu của mình trên những kiến thức về nghề đạo diễn mà Nguyễn Đình Nghi là một trong mấy người thầy lớn của tôi đã có ý thức truyền giảng cho tôi một cách tự nhiên sống động nhất.
Nhà thơ Thế Lữ
Sau này tôi biết nghề đạo diễn mà Nguyễn Đình Nghi yêu mê đến mức ném nguyên cả cuộc đời ông vào đó lại không bắt đầu từ bất cứ trường lớp đào tạo chính quy nào, mà bắt đầu ngay từ chính người cha ruột của ông - thi sĩ tiền phong của trào lưu Thơ Mới, mở màn cho văn chương Việt hiện đại từ những năm 30 của thế kỉ trước. Chính là Thế Lữ đã chú ý giáo dục con trai theo lối văn minh Phương Tây, để chuẩn bị cho Nguyễn Đình Nghi một vốn "văn hoá Tây" thật cần cho đoạn đường sau này. Và cũng chính là Thế Lữ dạy cho Nguyễn Đình Nghi tình yêu tiếng Việt, tình yêu hồn vía văn hoá Việt truyền thống của sân khấu dân tộc: rối nước, quan họ, ca trù, tuồng, chèo, cải lương...Hơn hết, chính là Thế Lữ đã giáo dục và trông nom cho tâm hồn Nguyễn Đình Nghi có được sự hoà quyện uyển chuyển chan hoà từ cả hai nguồn ảnh hưởng: văn hoá Việt và văn hoá Pháp. Và cũng chính vì thế mà tôi tự biết mình đã hành nghề sân khấu với may mắn có trên đầu sự truyền dạy kép của hai cha con đạo diễn Thế Lữ - Nguyễn Đình Nghi. Và cặp cha con đạo diễn hi hữu, danh giá, có một không hai này đã đóng đinh hai vị trí then chốt của nghề đạo diễn ở Việt Nam trong hai nửa thế kỉ XX: Người cha là đạo diễn chói sáng nửa đầu thế kỉ XX về sự tự học để trở thành nhà đạo diễn (tự học theo lối học "lóm" mà Thế Lữ khiêm cung gọi mình là "nhà dàn cảnh").
Người con Nguyễn Đình Nghi chính là một trong mấy đạo diễn thế hệ vàng ở Việt Nam, được học nghề bài bản, chính quy trong những trường lớp tốt nhất ở phương Đông: Trung Quốc và ở châu Âu (Liên Xô), được tiếp thu, thể nghiệm tinh hoa sân khấu thế giới qua hệ thống sân khấu Xtanhixlavxki và trở thành một hình mẫu chói sáng cho nghề đạo diễn đã đượcchuyên nghiệp hoá ở Việt Nam. Không những Nguyễn Đình Nghi đã chui ra khỏi cái bóng rợn ngợp mà người cha đã bao trùm một thời gian dài nền kịch nghệ Việt Nam, mà bằng sự trợ giúp của việc học bài bản nghề đạo diễn, Nguyễn Đình Nghi đã biến giấc mơ nghề nghiệp của cha mình thành hiện thực, khi chứng minh bằng cả một hành trang hơn 40 vở đã dàn dựng, rằng mình là đạo diễn có khả năng lớn trong thực hành nghề đạo diễn, sau khi được học nghề đạo diễn theo cách chính quy.
Tất cả những tích luỹ văn hoá kể trên đã tạo lập thành tính cách nghề nghiệp nổi bật của đạo diễn Nguyễn Đình Nghi, một người thầy suốt đời sân khấu của tôi. Học theo cách mà ông đã được dạy từ Thế Lữ cha mình, học theo cách ông học nghề ở nước ngoài và học theo cách mà ông thích: đối thoại sòng phẳng với ông về các vấn đề nghề nghiệp..., tôi nghĩ tôi đã may mắn và hạnh phúc được tiếp cận với một kho báu kiến thức từ một người thầy không một lần lên lớp ở giảng đường, mà chỉ truyền dạy tôi qua những kiến thức xanh tươi sống động nhất trong thực tiễn làm nghề đạo diễn sân khấu chuyên nghiệp của chính mình...
Thầy Nghi, không chỉ là thầy tôi, đã về cõi xa thẳm, nhưng ông vẫn để lại một bài học nguyên tươi, xanh thắm, sống động, đó là bài học về Hy vọng, không ngừng hy vọng về sự phát triển tươi sáng của sân khấu Việt Nam hiện đại trong thể kỉ XXI đầy những thử thách cam go này..
Nguồn: Tuần Việt Nam
| Thảo luận(0) |
Những bài mới nhất
TRẦN HÒA BÌNH đã nằm xuống rồi bao người trung thực
Nhà thơ PHAN XUÂN HẠT ở miền Hạnh Phúc Khôn Tròn

