NGUYỄN QUANG THIỀU 7 ngày ở nước Nga


[Vào lúc : 17:28 - 25/10/2009 | Chuyện mục : Tư liệu văn nghệ sĩ]
21 năm mới có dịp trở lại Moscow, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều cảm nhận: “Nước Nga đã thay đổi như một giấc mộng. Ngày hệ thống các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, đã có không ít người Việt Nam ở lứa tuổi cha tôi khóc. Với họ, Liên Xô ngày ấy như một người anh em thăng trầm có nhau, như một chỗ dựa tinh thần vững chắc, như một niềm tin và như nơi chứa đựng những ký ức đẹp cho dù rất nhiều người trong số họ chưa hề đặt chân đến đất nước này. .. Nước Nga đang thức dậy cho dù tôi vẫn mang cảm giác dân tộc này thức dậy trong những động tác còn chậm chạp. Nhưng nước Nga là một dân tộc vĩ đại. Dân tộc Nga như con tuấn mã trong một bài thơ của nhà thơ Nga giải Nobel văn học, Joseph Brodsky. Con tuấn mã Nga mạnh mẽ đã thức dậy trong bóng đêm và chờ một kị sỹ, một người Nga quả cảm yêu Cái đẹp và Tự do, đứng dậy để lên đường”



BẢY NGÀY Ở NƯỚC NGA

NGUYỄN QUANG THIỀU


Kỳ 1: Moscow, 21 năm về trước

Năm 1984, tôi lên đường đi Cuba học. Đoàn sinh viên chúng tôi ở lại Moscow mấy ngày để đợi vé máy bay đi Cuba. Ngày ấy, chúng tôi đã là cán bộ nhà nước nên khi đi học nước ngoài thì được trang bị một bộ complê, một đôi giày da, một chiếc va li giả da mà sau này tôi biết đó là những chiếc va li do những người quê vợ tôi, làng Đa Sỹ, Hà Đông gia công, một đôi áo sơ mi trắng cổ cồn, một đôi áo lót và một đôi tất. Tất cả những thứ đó lấy từ một cửa hàng ở phố Điện Biên Phủ chỗ đoạn đường tàu chạy qua. Đoàn sinh viên chúng tôi có 10 người. Khi tập trung để ra sân bay, 9 người kia ăn mặc đồng phục complê, giày da...như rập từ một khuôn đúc. Chỉ riêng tôi mặc một chiếc quần nhung đen, một chiếc áo phông và đi một đôi giày bata vải trắng. Một cán bộ phụ trách đã gọi tôi ra và nói : vẫn còn ở trong nước mà cậu đã ăn mặc thế này thì khi ra nước ngoài cậu sẽ như thế nào. Nghe vậy, tôi không hiểu vì sao nhưng tôi thấy sợ. Nhưng lúc đó tôi không kịp thay đổi trang phục của mình nữa.

Chúng tôi đến sân bay Moscow cùng với rất nhiều nam nữ thanh niên Việt Nam đi xuất khẩu lao động. Một người phụ trách đi đón đoàn xuất khẩu lao động hỏi to: " Những ai đi Bacu, những ai đi Bacu ?". 10 anh em chúng tôi nghe thế lại tưởng là đi Cuba thế là nhao nhao đáp lại. Người đàn ông nhìn chúng tôi ăn mặc như những cán bộ ngoại giao thì khó chịu nói : Đi lao động mà ăn mặc cứ như ông tướng thế à ? Nhưng khi biết chúng tôi nhầm thì ông lầm bầm và bỏ đi.
Chúng tôi ở lại Moscow mấy ngày rồi bay đi Cuba trên chuyến bay của Hãng hàng không Liên Xô. Chúng tôi quá cảnh ở một sân bay của Canada trước chặng bay cuối cùng đến Cuba. Trong sân bay, các hành khách quá cảnh được phát mỗi người một lon cocacola. Chúng tôi không biết làm thế nào để mở được lon cocacola nếu không có sự chỉ giúp của một hành khách nước ngoài đi cùng.

Một người bạn tôi đã chỉ cửa hàng miễn thuế và nói đó là cửa hàng mà ai muốn lấy gì thì lấy chứ không phải trả tiền. Anh đã hiểu chữ free trong free duty shop là như thế. Vì ngày ấy, khái niệm về một thị trường như thế không có trong tư duy của hầu hết người Việt Nam. Mặc dù anh bạn quả quyết là như thế, nhưng không ai trong chúng tôi dám thò tay chạm vào bất cứ một thứ gì trong cửa hàng. Điều kinh sợ nhất ở đó là những cuốn tạp chí playboy với hình những cô gái khoả thân. Lúc đó, nỗi sợ hãi về chủ nghĩa tư bản thực sự xâm chiếm trong tôi. Những cô gái mắt xanh biếc với đôi môi màu chì và những móng tay màu nhũ bạc không một mảnh vải che thân vừa kích động giới tính của tôi vừa làm tôi sợ hãi về một thế giới không phải của con người như tôi từng nghĩ.

Thế mà hơn 20 năm sau, ngay ở một thị trấn nhỏ ở Việt Nam, một cậu bé 12 tuổi có thể đóng cửa phòng của cậu và mở computer ra là cậu có thể ngập chìm trong một thế giới của các cô gái khoả thân và những lời mời gọi của thế giới tình dục. Thế giới chúng ta, trong đó có anh, có chị, có bạn và có cả tôi, đang trở nên văn minh hay đang suy tàn và mù loà trong ánh sáng của thời đại hậu công nghiệp? Cũng chính ở sân bay này, một người bạn trong đoàn học sinh 10 người của chúng tôi đã cùng nạn nhân chiến tranh Kim Phúc trong một chuyến bay Liên Xô - Cuba đã bước ra khỏi sân bay và xin định cư. Bây giờ họ đã trở thành công dân Canada.

Thời gian thay đổi quá nhanh như một giấc mộng. Nó cuốn tất cả những gì có trong vũ trụ này vào đường đi của nó mà không ai cưỡng được. Nó làm cho tất cả những gì không có khả năng vĩnh cửu đều bị nghiền nát và thối rữa. Mấy năm sau, chúng tôi trở về nước và quá cảnh ở Moscow để chờ vé về Việt Nam. Chúng tôi phải chờ vé đúng 3 tuần. Lúc đó là thế. Nhưng đó lại là sự may mắn cho chúng tôi được tham quan thủ đô vĩ đại nhất của phe XHCN. Hay có thể nói Moscow là thủ đô của cả hệ thống XHCN. Từ Cuba về, mỗi anh em chúng tôi đều mang theo một thứ mà đó là tài sản lớn nhất trong mấy năm học ở Cuba chúng tôi có được. Đó là một chiếc đài cát xét có hai loa mà chúng tôi gọi tắt là cát xét " ba cục", bao gồm một đầu máy và hai loa rời. Chúng tôi ở nhà khách của Sứ quán Việt Nam tại Liên Xô hồi đó. Ngay buổi tối ngày chúng tôi đến đã có nhiều người đến hỏi thăm. Họ đến hỏi xem chúng tôi có hàng gì bán không.

Ngày ấy, ai đến Moscow đều biết nhà khách Sứ quán là nơi lúc nào cũng nhộn nhịp người trao đổi, mua bán hàng hóa như một trung tâm thương mại. Chúng tôi nhờ một số nhân viên Sứ quán bán giúp cát xét, băng nhạc trắng mác Sony hoặc Tosiba rồi lại nhờ họ mua giúp hàng hóa như dây maiso, bàn là, quạt điện, phích đá, nồi áp suất, máy làm kem...
Ngày ấy, những thứ chúng tôi mang từ Cuba về made in Japan là những thứ mà tất cả những người Nga có tiền đều mơ được sở hữu. Nhưng sao chúng tôi lại mua được những thứ hàng đó? Vì ở Cuba, chúng tôi đã giúp các nhân viên Sứ quán một số việc và họ giúp chúng tôi mua những thứ hàng đó trong cửa hàng ngoại giao chỉ bán bằng đô la hoặc đồng Peso vàng mà những sinh viên Việt Nam không được quyền sử dụng. Với một chiếc máy nghe nhạc "ba cục" made in Japan, tôi mua được mấy thùng hàng và nhờ một nhân viên ngoại giao quen biết từ trong nước gửi chậm về nước. Tôi đã thức suốt đêm để nhìn những thùng hàng và lòng vơi đi một phần nỗi dày vò vì đã bỏ vợ con tôi đói rét mấy năm trời.

Đó là những năm tháng thiếu thốn và đói khát vô cùng. Có lẽ tất cả những người Việt Nam đi lao động, học tập và công tác đều tìm cách mang hàng đến Liên Xô bán lấy tiền để mua hàng "đánh " về nước. Ngay cả các nhà văn Việt Nam đi học trường viết văn danh tiếng M. Gorky cũng dành hầu hết thời gian ngoài giờ học đi săn hàng mang về nước. Thay vào những cuốn sách trong những thùng hàng ngày về nước của các nhà văn là dây maiso, bàn là, nồi áp suất, phích đá... Ngày ấy, nếu những ai đi nước ngoài mà không làm thế sẽ trở thành những kẻ nhẫn tâm đối với gia đình họ. Những điều cao quí thì vẫn nghĩ đến nhưng trước mắt phải sống đã.

Người ta khó có thể giữ được những điều cao quí mãi mãi nếu cứ mãi mãi sống trong đói rét đến mê mụ cả đầu óc. Nhưng dù thế nào thì những u mê đó cũng chỉ là cái chớp mắt của vũ trụ vô tận. Tất cả những u mê và lú lẫn đó như là nguyên nhân của một trò chơi hài hước hoặc là một thoáng quên lãng con người của Thượng đế mà con người ra nông nỗi này.
Nhớ hồi ở Cuba, vợ tôi thi thoảng gửi một hai gói áo băng đạn sang cho tôi để bán lấy tiền. Đấy là loại áo sản xuất hàng loạt ở phố Khâm Thiên có may một phần trang trí trên ngực giống như những cái dải để người ta nhét đạn vào đó. Áo băng đạn cũng chỉ là một trong hàng trăm thứ hàng gia công rẻ tiền và với chất lượng vô cùng tệ hại. Tôi bán những chiếc áo băng đạn ấy lấy tiền rồi mua xilanh, vải nhung, áo bay, tắc te đèn tuýp, mạng đèn măng sông... gửi về nước. Đến bây giờ nghĩ lại, thấy những năm tháng đó thật buồn. Hồi chúng tôi ở Moscow 21 năm về trước, một lần mấy anh em rủ nhau đi tàu điện ngầm để biết tàu điện ngầm của Liên Xô vĩ đại nhất thế giới như thế nào. Nhưng vì không biết tiếng Nga nên không thể nào tìm được lối về nhà khách Sứ quán.

Cuối cùng, chúng tôi gặp một đôi trai gái là sinh viên Việt Nam đang học ở Moscow. Chúng tôi vội túm lấy họ để nhờ chỉ đường. Họ rất nồng nhiệt và mời chúng tôi về thăm cư xá của họ trước khi đưa chúng tôi về nhà khách Sứ quán. Chúng tôi về theo và nhận thấy phòng ở của họ là một kho chứa những mặt hàng mà người Việt Nam nào sang Moscow công tác hay quá cảnh đều muốn mua mang về. Thế là, để họ chỉ đường cho mình, chúng tôi đã phải mua một số hàng của họ với giá cao hơn mua ở nhà khách Sứ quán.
Một buổi tối đứng nhìn qua cửa sổ phòng ở khách sạn, lòng tôi mang một cảm giác khó tả. Tôi không ngờ rằng, gia đình tôi đã có những gắn bó với thành phố này bao nhiêu năm nay. Anh trai tôi đã học ở đây, em trai, em dâu tôi là công nhân xuất khẩu lao động rồi ở lại làm ăn buôn bán nhiều năm, em rể tôi cũng vậy, rồi đến đứa cháu gọi tôi bằng cậu cũng học đại học ở đây. Tôi có một đứa cháu trai con anh cả làm ăn mười mấy năm ở Moscow. Cháu tôi đi xuất khẩu lao động suốt gần mười năm mới về thăm nhà. Ngày ra sân bay đón cháu, chị dâu tôi đã khóc khi nhìn thấy con. Tóc cháu cắt trọc, người gầy và như già trước tuổi.

Tôi nhớ những lần em tôi từ Liên Xô về nước. Mỗi khi trở lại Liên Xô là một chuyến đi đầy lo lắng và khổ sở. Nó phải tìm cách mang được nhiều hàng sang càng tốt. Tôi nhìn em tôi nhét nhét, giấu giấu hàng hóa mà lòng buồn vô tận. Cuộc mưu sinh đày đọa con người đến không còn một chút nào thanh thản. Những chiếc làn cói được đóng rất chặt vào nhau. Và dưới đáy những chiếc làn cói là đinh và mác quần bò rởm được giấu kín để sang đó may quần bò và gắn những đinh, những mác rởm kia vào rồi bán. Ngày đó, nghe nói Hải quan Liên Xô còn phát hiện ra cả một chuyến bay chở đến hàng vạn chiếc đồng hồ điện tử từ Việt Nam sang.
Và đêm ấy bên ô cửa sổ khách sạn, tôi như nghe thấy những ngọn gió số phận thổi buồn bã qua những vùng đất của thế gian. Làng tôi cũng có rất nhiều người sang đây làm ăn buôn bán. Có chị đã ở Moscow hơn 20 năm rồi và hầu như chỉ làm một việc duy nhất trong từng ấy năm là bán thuốc lá lẻ. Cho đến giờ, chị vẫn chưa lập gia đình và có lẽ cũng không còn cơ hội nữa. Tôi đến Moscow lần này vào giữa tháng 10, nhưng trời đã rất lạnh. Tôi không thể tưởng tượng nổi chị đi bán thuốc lá lẻ trong mùa đông quá khắc nghiệt của nước Nga như thế nào.

Nước Nga giờ đã khác với Liên Xô trước đây rất nhiều. Có rất nhiều người Nga đã trở thành những tỷ phú đô la. Nhưng trước khi lên đường, lòng tôi vẫn cảm thấy không yên về chuyến đi. Hầu hết thông tin về nước Nga là thông tin về an ninh. Người ta nói về " chủ nghĩa đầu trọc Nga ", những kẻ đã ngang nhiên giết chết những người Việt Nam làm việc và học tập ở Nga. Họ bảo chúng tôi đi đâu phải đi một nhóm ít nhất là 10 người trở lên và không được ra phố buổi tối. Có những người bạn khuyên tôi hãy đợi khi nào an ninh nước Nga ổn định hãy đi. Nhưng mỗi chuyến đi xa lúc nào cũng làm tôi náo nức. Tôi muốn đến đất nước xa xôi nhưng có một nền văn hoá kỳ vĩ đó. Tôi muốn thấy được mùa thu vàng của nước Nga. Tôi muốn được đặt chân lên thành phố Saint Peterburg, nơi có những nhà văn nhà thơ, nhạc sỹ, hoạ sỹ đã để lại cho nhân loại những tác phẩm kỳ vĩ. Trong đó có một nhà thơ đã sống những năm tháng bi thương và hạnh phúc nhất của mình, người mà tôi luôn luôn muốn được cúi đầu kính trọng, người đã bị trục xuất khỏi nước Nga vì là một kẻ được cho là ăn bám xã hội vì chỉ biết làm thơ, người mà khi bị đẩy ra khỏi biên giới của cố hương mình đã quay lại đau đớn nói : Tôi sẽ làm cho tiếng Nga một lần nữa trở nên vinh quang trong di sản văn hoá nhân loại. Đó là nhà thơ Joseph Brodsky. 17 năm sau ngày bị trục xuất, ông đã giành giải Nobel văn học cho những bài thơ viết bằng tiếng Nga của mình.
Sau này, khi Liên bang CHXHCN Xô Viết tan rã, Brodsky đã có cơ hội để trở về thành phố quê hương Saint Peterburg của ông, những ông đã không đủ can đảm trở về. Ông sợ những ký ức lộng lẫy của ông về thành phố quê hương bị phá vỡ. Và ông đã mang những ký ức về Saint Peterburg cổ kính, lộng lẫy và sâu thẳm về với Thiên đường. Đấy chính là tình yêu đích thực, lớn lao của một con người với tổ quốc của mình.

Kỳ 2: Nước Nga, 21 năm sau và một chàng kị sỹ đứng dậy

Chúng tôi đến Moscow vào lúc 6h30 tối ngày 9 tháng 10. Ngay từ lúc máy bay đáp xuống đường băng, tôi đã không rời mắt khỏi ô cửa ở dãy ghế tôi ngồi. Đã 21 năm chưa trở lại thành phố này, nhưng tôi vẫn cố tìm trong những vòm sáng của ánh đèn sân bay một chút gì đó quen thuộc, cho dù tôi biết sẽ chẳng nhận ra điều gì. Nhưng đó là thói quen của một người đã đi qua một vùng đất, giờ muốn kiếm tìm chút gì đó còn lại của quá khứ. Nước Nga đã thay đổi như một giấc mộng. Ngày hệ thống các nước XHCN Đông Âu sụp đổ, đã có không ít người Việt Nam ở lứa tuổi cha tôi khóc. Với họ, Liên Xô ngày ấy như một người anh em thăng trầm có nhau, như một chỗ dựa tinh thần vững chắc, như một niềm tin và như một nơi chứa đựng những ký ức đẹp của họ, cho dù rất nhiều người trong số đó chưa hề đặt chân đến đất nước này.

Và khi bước chân xuống sân bay, tôi cảm thấy có một điều gì đó lặng lẽ buồn. Sân bay như đã lâu lắm không xây dựng gì thêm. Những nhà vệ sinh chật hẹp làm cả đoàn người xếp hàng dài. Những bức tường màu sơn đã cũ màu thời gian... Một cảm giác rời rạc và chậm bao trùm sân bay. Ngay từ khi ở trên máy bay, nhiều hành khách thắc mắc tại sao các tiếp viên của hàng không Nga lại già và ít mỉm cười như vậy. Cũng có người nói lâu nay, người Việt Nam trong mắt những người Nga đã không còn hiện lên với một hình ảnh thân thiện nữa. Những người Việt Nam làm ăn, buôn bán ở Nga đã làm lu mờ đi hình ảnh của một Việt Nam trước kia chăng? Thời thế đã thay đổi chăng? Người Nga bây giờ không đảm nhận sứ mệnh của một người anh cả nữa. Họ không phải luôn luôn biểu hiện sức mạnh, sự che chở và lòng tin cho các nước đồng minh nữa... Mỗi dân tộc đang phải gồng mình để gánh cái gánh nặng của dân tộc mình.

Trong chuyến bay từ Hà Nội đến Moscow, đầu tôi cứ liên tiếp xuất hiện các câu hỏi về Liên Xô thuở trước và hồi hộp đợi chờ ngắm nhìn nước Nga bây giờ. Những câu hỏi ấy vang lên như những tiếng gõ mỗi lúc một mạnh trong đầu tôi khi đoàn chúng tôi phải mất đến 3 tiếng đồng hồ mới làm xong thủ tục nhập cảnh. Trong lúc làm thủ tục nhập cảnh, cứ thi thoảng một người trong đoàn lại bị đuổi trở về xếp hàng lại vì một lý do gì đó mà không ai hiểu được. Trong khi đó có những nhóm người Nga thản nhiên vượt qua chúng tôi đến bàn làm thủ tục nhập cảnh như là họ chẳng nhìn thấy chúng tôi đang xếp hàng trước họ ở đấy. Đoàn gồm 80 người của chúng tôi chỉ có một hoặc hai người biết tiếng Nga nhưng hầu hết biết tiếng Anh khá thông thạo. Nhưng cho dù chúng tôi cố giải thích với nhân viên anh ninh cửa khẩu Nga rằng chúng tôi không phải sang đây làm ăn buôn bán, chúng tôi chỉ vì yêu quí nền văn hoá vĩ đại của nước Nga và bị quyến rũ bởi thiên nhiên Nga hùng vĩ và lãng mạn thì các nhân viên an ninh cửa khẩu cũng chẳng để ý gì. Có những nhân viên mà nếu họ không nhai kẹo cao su thì tôi đã nhầm họ với một ma-nơ-canh.

Điều gì đã làm không ít những người Nga thay đổi tình cảm với những người Việt Nam mà trước kia họ là những người anh em thật khó ai sánh bằng? Lại câu hỏi ấy vang lên. Lại hàng chục câu trả lời khác nhau của những người trong đoàn chúng tôi. Nhưng khi chúng tôi bước ra khỏi sân bay để trở về khách sạn thì những ngọn gió lạnh đặc trưng châu Âu vào những ngày cuối thu đã làm chúng tôi quên đi câu hỏi ấy. Trong ánh đèn đêm, chúng tôi đã nhận ra thấp thoáng những vòm lá vàng mê đắm của mùa thu nước Nga. Và lúc này, hơi thở rực nóng và giọng nói kỳ lạ từ một nước Nga xa xôi của M. Dostoyevsky, A. Puskin, Lev Tolstoi, của P.I. Traicopxki, Isaac Levitan, của Anna Akhamatova, Mikhain Solokop, của Boris Pasternak, Sergei Exenhin, của Joseph Brodsky, Chingiz Aimatov... tràn về. Ngay lúc đó, trong ánh đêm đầy bí ẩn của mùa thu nước Nga, tôi thấy một nước Nga vĩ đại hiện lên và không còn gì khác thế.

Trong đêm đầu tiên sau 21 năm trở lại Moscow, tuy với chặng bay dài, với những phiền luỵ ở sân bay, tôi vẫn thức rất khuya. Tôi nhìn xuống thành phố từ cửa sổ phòng ngủ trên tầng 19 của khách sạn. Và trong bóng tối, một nước Nga của tôi hiện lên: Hiện lên Dostoyevsky đang ngồi viết Tội ác và trừng phạt trong một căn phòng cũ kỹ và thiếu củi đốt mùa đông. Hiện lên Traicopxki đang run rẩy đặt những ngón tay trên những phím piano lạnh cóng. Hiện nên chàng thanh niên Brodsky lao động trong băng giá ở Xeberi và viết những bài thơ khổng lồ cho nước Nga yêu dấu và đau đớn của chàng. Hiện lên cháu trai tôi bị một số thanh niên Nga trói bằng băng dính để lấy hết số tiền đi mua hàng và ném vào tuyết lạnh. Hiện lên người đàn bà làng tôi đi bán thuốc lá lẻ trong gió tuyết của thế kỷ 21 trên những đường phố Moscow. Và hiện lên cả tôi 21 năm về trước đi mua maiso điện, bàn là, nồi áp suất... mà quên đi những bảo tàng, những cung điện, những cánh rừng nhuộm vàng, những "Hồ thiên nga"... Tôi không thể lãng mạn đến vô tâm trong đói rét của những người thân nhưng tôi đã đánh mất quá nhiều điều mà không bao giờ tìm lại được nữa.

Sáng hôm sau, chúng tôi dậy sớm để bắt đầu ngày đầu tiên của chuyến du lịch bảy ngày. Chúng tôi đã mất một ngày kể từ khi thức dậy bước ra khỏi nhà, đến sân bay Nội Bài rồi âm u bay trên trời đến Moscow. Một ngày chưa nhìn thấy nước Nga nhưng là một ngày của ký ức, của trí tưởng tượng, của lo âu, của náo nức, của mệt mỏi, của khó chịu, của những câu hỏi và của những câu trả lời. Và Quảng trường đỏ hiện ra với nhà thờ, chuông điện Kremlin... Chính trên quảng trường này, những đại đoàn hồng quân Liên Xô đã duyệt binh và đi thẳng ra mặt trận. Họ đã làm nên một lịch sử vĩ đại là tiêu diệt chủ nghĩa phát xít Đức man rợ, cứu nhân loại thoát khỏi cái chết thảm khốc. Stalin là vị chỉ huy tối cao của hồng quân Liên Xô. Ông đã viết những dòng chữ đỏ vào lịch sử nhân loại. Nhưng trên phần đời sau đó của ông, nhân loại đã viết một dòng chữ khác.

Tôi lang thang trên quảng trường trong gió lạnh của một ban mai mới. Mặt trời đang lên tỏa những tia nắng ấm áp. Khi tôi đang chìm trong trí tưởng tưởng về những đại đoàn hồng quân Liên Xô duyệt binh trên quảng trường và đi từ một mùa đông khắc nghiệt đầy băng giá, đầy đói rét và đầy máu chảy đến một chiến thắng cho toàn nhân loại thì một hình ảnh tự nhiên nhưng như một thông điệp làm tôi vô cùng xúc động. Đó là một người đàn ông Nga đưa con đến thăm quảng trường. Và tôi nghĩ, đây chính là cuộc duyệt binh cho tương lai của nước Nga.

Đứa bé chừng hơn hai tuổi, một công dân tương lai của nước Nga, mặc một chiếc áo đỏ rực, bước đi những bước thật tự tin về phía trước. Tôi không thể biết, 30 hay 40 năm sau, đứa trẻ kia sẽ như thế nào. Nó có thể trở thành một Dostoyevsky, một Traicopxki hay một Brodsky và cũng có thể trở thành một kẻ độc tài của dân tộc Nga. Nhưng tôi tin về một tương lai tốt đẹp. Bởi trên mảnh đất của một nền văn hóa kỳ vĩ kia, nhân loại sẽ được thức tỉnh và đi đúng con đường của mình cho dù có lúc họ đi lạc vào trong một cánh rừng của quỷ như những truyện cổ tích nước Nga.

Nước Nga đang thức dậy cho dù tôi vẫn mang cảm giác dân tộc này thức dậy trong những động tác còn chậm chạp. Nhưng nước Nga là một dân tộc vĩ đại. Dân tộc Nga như con tuấn mã trong một bài thơ của nhà thơ Nga giải Nobel văn học, Joseph Brodsky. Con tuấn mã Nga mạnh mẽ đã thức dậy trong bóng đêm và chờ một kị sỹ, một người Nga quả cảm yêu Cái đẹp và Tự do, đứng dậy để lên đường. Và không chỉ đối với dân tộc Nga, dân tộc nào cũng có một con tuấn mã như vậy để đợi chờ một kị sỹ như vậy đứng dậy và lên đường đi đến tương lai của họ:

Con ngựa đen
Bầu trời đen sáng hơn cả những chân kia
và không thể chìm trong bóng đêm.
Cạnh bếp lửa chúng ta, tối hôm nọ
Ta đã nhìn thấy con ngựa đen.
Tôi không nhớ có cái gì đen hơn.
Đứng trên chân đen như những trụ than,
con ngựa đen như đêm tối,
như hư vô, đen từ bờm đến đuôi,
và lưng nó ánh lên một màu đen khác
cái lưng không hề biết đến yên cương.
Nó chờ bất động và có vẻ đang ngủ
đứng thẳng trên móng guốc đen như nỗi sợ.
Nó đen đến nỗi đã xua tan bóng tối,
đen như thế gian u tối nhất,
đen như sương mù nửa đêm,
đen như cái lỗ của cây kim,
đen như những rừng cây cao mất hút,
giống như khoảng không giữa sườn và ngực,
giống như cái lỗ có hạt giống nằm yên trong đất,
giống như bóng đêm đang xuống trong lòng ta.
Tuy thế dưới mắt ta nó còn đen lên nữa.
Đồng hồ chúng ta chỉ đúng nửa đêm.
Nó không đi về phía chúng ta,
bóng tối kỳ diệu đã nhận chìm hai cạnh sườn của nó
và cái lưng nó biến mất trong đêm.
Mọi vệt sáng đều tan biến,
mắt nó ngả trắng như một cái búng tay,
con ngươi chiếu sáng còn ghê sợ hơn nữa.
Nó giống như âm bản của một người lạ.
Thế thì tại sao, chạy đến chỗ này,
nó dừng lại bên chúng ta đến tận bình minh?
Tại sao nó không bỏ bếp lửa ra đi?
Tại sao nó hít thở không khí đen
trong tiếng xào xạc của cành lá bị giẫm?
Tại sao trong mắt nó chập chờn ánh sáng tối mù?
Nó chờ đợi trong chúng ta một kỵ sĩ đứng dậy.

( Hoàng Ngọc Biên dịch)



| Thảo luận(0) |
Viết Thảo luận
Hình vui
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
Mở HTML
Mở UBB
Mở hình vui
Ẩn giấu
Hãy nhớ
Tên gọi   Mật khẩu   Khách không cần mật khẩu
Địa chỉ web   Email   [Đăng ký]
               

 

Những bài mới nhất