Nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc đau xót “có nhà báo của ta trên báo Văn hoá thể thao còn ví pianist Clayderman nhân dịp anh ta sang biểu diễn ở TP HCM với Beethoven (?!) quả là một điều khôi hài có thật”, còn đạo diễn Đặng Nhật Minh chua chát: “Một nhà phê bình phim kể với tôi câu chuyện sau: Anh có cô con gái , nối nghiệp cha, học khoa phê bình điện ảnh. Ra trường anh xin cho con vào làm tại một toà báo có uy tín, phụ trách mảng điện ảnh. Anh phấn khởi thấy các bài viết của con mình ngày càng sâu sắc, hy vọng có thể thành một cây bút phê bình điện ảnh có uy tín. Nào ngờ một thời gian sau cô gái được Tổng biên tập gọi lên trao cho một nhiệm vụ khác: phụ trách mảng pháp luật của tờ báo với lý do sau một thời gian làm việc có tín nhiệm, cô nên đảm trách một công việc quan trọng hơn. Phần việc theo dõi điện ảnh để dành cho một phóng viên trẻ mới được toà soạn nhận vào làm!”
NỀN ÂM NHẠC CỦA NHÀ BÁO?
ĐẶNG HỮU PHÚC
Âm nhạc vừa là một bộ môn nghệ thuật, vừa là một môn khoa học, ai cũng hiểu vậy, tuy nhiên phần khoa học của âm nhạc cũng trừu tượng, chứ không rõ ràng như những bộ môn khoa học thuần tuý khác như Toán học, Vật lý, Hoá học, Y học... Ở những bộ môn khoa học thuần tuý, mọi chuyện đều rất rõ ràng, Nếu vì không hiểu biết, mà viết bài báo ca ngợi, tán dương lầm những công trình kém hoặc rởm thì lộ ra trình độ khoa học của người viết báo ngay. Hiển nhiên là như vậy rồi. Không ai có thể lái cả một nền khoa học đi theo ý mình được. Thế nhưng để lái cả một nền nghệ thuật, cụ thể hơn là âm nhạc, theo tầm hiểu biết của các nhà báo thì hoàn toàn có thể. Thật dễ dàng khi viết những bài báo ca ngợi những “thành tích” âm nhạc tưong đương với 1 cộng 1 bằng 2 của bên toán học, báo chí có thể lăng xê những “tác phẩm” đó, để nó trở thành thần tượng của công chúng một cách dễ dàng.Ở Việt Nam ta hiện nay, tầng lớp công chúng có thể thưởng thức những tác phẩm nghệ thuật chuyên nghiệp ngày càng ít dần, ít dần. Thẩm mỹ bình dân, gắn với nghệ thuật thưng mại rẻ tiền ngày càng lấn lướt. Một nghịch lý trong âm nhạc Việt Nam hiện nay là: những thứ “nhạc” càng rẻ tiền, thì càng bán được nhiều tiền. Và ngược lại. Xin kể một chuyện rất thường gặp: thật là khổ sở khi mỗi lần tôi có việc phải đi xe bus đường dài, trên xe, người ta luôn luôn mở nhạc bình dân, nhạc sến (kiểu như Thuý Nga Paris) như là một thứ không thể thiếu của hành trình. Đối với tôi thì thật là tra tấn. Nhưng khi tôi quan sát thì thấy hầu như tất cả hành khách đều hài lòng, họ còn khẽ hát theo, thì mình cảm thấy hoàn toàn không có quyền yêu cầu nhà xe tắt những thứ nhạc đó đi.
Ta đang ở trong khu vực “trũng” của văn hoá, vậy mà mặt bằng văn hoá ở nước ta so với khu vực lại còn vào loại thấp, hàng ngày dân ta “đói” thưởng thức những thứ âm nhạc ca múa hát bình dân, giải trí, dễ hiểu. Đói những câu chuyện đời tư của các “sao”. Để đáp ứng cái “đói” của họ thì quá dễ dàng, Họ có thể tìm ra các “thực đơn” về âm nhạc giải trí trên báo, trên tivi . Cả một trời “sao“ ca hát, cả một rừng các “nhạc sỹ” đã xuất hiện để phục vụ họ. Và những giải thưởng hàng năm của các nhà báo đã góp phần rất lớn vào những “ngộ nhận” về nghề nghiệp của các “sao” và các “nhạc sỹ” sáng tác nhạc thị trường.
Đa số những người viết báo về âm nhạc ở nước ta chưa được đào tạo chuyên về âm nhạc. Họ hầu như chỉ có kỹ năng viết báo. Và họ nghĩ rằng họ có thể viết về tất cả các đề tài khi họ muốn. Vì vậy, những chuyện tương tự như có nhà báo của ta trên báo Văn hoá thể thao còn ví pianist Clayderman nhân dịp anh ta sang biểu diễn ở TP HCM với Beethoven (?!) quả là một điều khôi hài có thật. Khi viết về âm nhạc, hầu như họ chỉ biết và viết về mảng ca khúc quần chúng, vì vậy nếu chỉ qua báo chí, thì tất cả đều nghĩ: ở Việt Nam, âm nhạc chỉ có ca khúc quần chúng, các nhạc sỹ VN chỉ viết được ca khúc quần chúng. Và tôi xin nhắc lại một ý kiến mà tôi đã viết trên báo: Dù Việt Nam ta có sáng tác bao nhiêu ca khúc đi nữa, chất lượng của ca khúc cao thế nào đi nữa, mà ta không có tác phẩm viết cho khí nhạc, thì đối với thế giới, nền âm nhạc chuyên nghiệp của chúng ta vẫn chỉ là số không! Đó là một sự thực mà giới âm nhạc chuyên nghiệp ai cũng biết.
NỀN ĐIỆN ẢNH CỦA NHÀ BÁO?
ĐẶNG NHẬT MINH
Bức tranh được nhạc sỹ miêu tả về thực trạng đáng buồn của sinh hoạt âm nhạc nước nhà sao giống hệt với những gì đang diễn ra trong lĩnh vực điện ảnh vậy! Những điều ông đề cập đến trong bài viết của mình cũng chính là những điều mà nhiều người trong giới điện ảnh bấy lâu băn khoăn nhưng chưa có ai gọi đúng tên sự vật một cách chính xác như nhạc sỹ Đặng Hữu Phúc. Ông gọi đó là: "Một nền âm nhạc của các nhà báo", và tôi xin mượn cái tên đó để đặt cho bài viết của mình: "Có một nền điện ảnh của các nhà báo?"
Nước ta hiện có hơn 600 tờ báo và tạp chí (một con số kỷ lục so với các nước có dân số tương đương). Trong số đó nhiều báo và tạp chí không phải thuộc chuyên ngành văn hoá, nhưng hầu hết đều có mục văn hoá nghệ thuật, đề cập đến mọi chuyện lớn nhỏ diễn ra trong đời sống văn học, âm nhạc, hội họa, sân khấu, điện ảnh v.v… như một món hàng không thể thiếu để phục vụ độc giả. Những người được toà soạn giao trọng trách giữ những chuyên mục văn hoá nghệ thuật trên các tờ báo đó nghiễm nhiên được hiểu là những người đại diện cho “công luận báo chí”, đánh giá và định hướng dư luận xã hội đối với mọi sinh hoạt cũng như sáng tác văn học nghệ thuật nước nhà. Cái trọng trách đó trong lĩnh vực âm nhạc đã được nhạc sỹ Đặng Hữu Phúc đề cập đến như sau:
“Âm nhạc vừa là một bộ môn nghệ thuật, vừa là một môn khoa học, ai cũng hiểu vậy, tuy nhiên phần khoa học của âm nhạc cũng trừu tượng, chứ không rõ ràng như những bộ môn khoa học thuần tuý khác như Toán học, Vật lý, Hoá học, Y học...
Ở những bộ môn khoa học thuần tuý, mọi chuyện đều rất rõ ràng, nếu vì không hiểu biết, mà viết bài báo ca ngợi, tán dương lầm những công trình kém hoặc rởm thì lộ ra trình độ khoa học của người viết báo ngay. Hiển nhiên là như vậy rồi. Không ai có thể lái cả một nền khoa học đi theo ý mình được.
Thế nhưng để lái cả một nền nghệ thuật, cụ thể hơn là âm nhạc, theo tầm hiểu biết của các nhà báo thì hoàn toàn có thể. Thật dễ dàng khi viết những bài báo ca ngợi những “thành tích” âm nhạc tưong đương với 1 cộng 1 bằng 2 của bên toán học, báo chí có thể lăng xê những “tác phẩm” đó, để nó trở thành thần tượng của công chúng một cách dễ dàng”. Để không vơ đũa cả nắm tôi xin nói ngay rằng có những nhà báo phụ trách các mục văn hóa nghệ thuật trên các báo có trình độ, có lương tâm, trách nhiệm và trung thực. Họ thực sự là những người bạn đáng tin cậy của người đọc lẫn những người sáng tác. Nhưng tiếc rằng bên cạnh những cây bút như vậy có không ít người thiếu trình độ, thiếu khách quan và đôi khi thiếu cả cái tâm trong sáng. Vâng, có những trường hợp chỉ cần một bài viết của họ, đăng tải trên báo hay tạp chí (của chính họ) lập tức được coi là “dư luận báo chí” về một tác phẩm văn học nghệ thuật nào đó vừa mới xuất hiện. Bởi vậy cái “quyền lực thứ tư” của báo chí trong lĩnh vực này thường là cái đích ngắm để làm PR (tiếp thị ) cho các sản phẩm nghệ thuật.
Chưa có kinh nghiệm thì làm... văn hóa
Từ đó nảy sinh một hiện tượng như nhạc sỹ Đặng Hữu Phúc nhận xét: “Ở Việt Nam ta hiện nay, tầng lớp công chúng có thể thưởng thức những tác phẩm nghệ thuật chuyên nghiệp ngày càng ít dần, ít dần. Thẩm mỹ bình dân, gắn với nghệ thuật thương mại rẻ tiền ngày càng lấn lướt. Một nghịch lý trong âm nhạc Việt Nam hiện nay là: những thứ “nhạc” càng rẻ tiền, thì càng bán được nhiều tiền. Và ngược lại.” Cái điều nghịch lý trong âm nhạc mà Đặng Hữu Phúc vạch ra cũng hệt như trong điện ảnh: Những thứ phim càng rẻ tiền, càng dễ dãi… lại càng hái ra tiền. Cái nghịch lý đó có nhiều nguyên nhân, sẽ xin đề cập trong một dịp khác, nhưng trong đó có phần “tiếp tay” không nhỏ của những người được gọi là đại diện cho “công luận báo chí ”. Nguyên nhân của hiện tượng này xuất phát từ đâu?
Trước hết là do một số người được giao giữ những chuyên mục văn học nghệ thuật không có đủ kiến thức chuyên môn cần thiết về những lĩnh vực mà mình được giao. Phần đông họ tốt nghiệp khoa báo chí hay tổng hợp văn ra. Khi ra trường liên hệ xin việc, một số ít người may mắn được nhận vào làm tại các toà báo và công việc họ được giao đầu tiên là làm phóng viên theo dõi điện ảnh, sân khấu, hoặc âm nhạc… Có vẻ như đó là những công việc mà tòa soạn thấy yên tâm nhất khi giao cho một người mới vào nghề. Họ có viết điều gì không chính xác, hoặc thậm chí sai cũng chẳng chết ai. Và thế là những nhà báo mới bước vào nghề kia nghiễm nhiên trở thành những người “cầm trịch mảng văn hóa nghệ thuật” của tờ báo. Dần dà, những người trẻ tuổi kia cảm thấy mình cũng khá quan trọng. Một bộ phim hay vở kịch được họ khen chê lập tức được coi là dư luận báo chí khen chê (dù đó chỉ là ý kiến của cá nhân một nguời chứ không phải của cả tờ báo). Một nhà phê bình phim kể với tôi câu chuyện sau: Anh có cô con gái , nối nghiệp cha, học khoa phê bình điện ảnh. Ra trường anh xin cho con vào làm tại một toà báo có uy tín, phụ trách mảng điện ảnh. Anh phấn khởi thấy các bài viết của con mình ngày càng sâu sắc, hy vọng có thể thành một cây bút phê bình điện ảnh có uy tín. Nào ngờ một thời gian sau cô gái được Tổng biên tập gọi lên trao cho một nhiệm vụ khác: phụ trách mảng pháp luật của tờ báo với lý do sau một thời gian làm việc có tín nhiệm, cô nên đảm trách một công việc quan trọng hơn. Phần việc theo dõi điện ảnh để dành cho một phóng viên trẻ mới được toà soạn nhận vào làm! Thì ra, cái công việc theo dõi điện ảnh và chắc là cả sân khấu, âm nhạc v.v…cũng vậy, là chỗ dành cho những người mới bước vào nghề làm báo. Tuy nhiên trong lĩnh vực này cũng có những người sống lâu lên lão làng, nghiễm nhiên tự coi mình cũng là những nhà phê bình lý luận điện ảnh, sân khấu, âm nhạc v.v... mặc dầu chưa được đào tạo qua một ngày nào về những chuyên môn trên.
Thiếu kỹ năng chuyên môn lẫn kỹ năng viết báo...
Trong bài viết của nhạc sỹ Đặng Hữu Phúc còn nói lên một sự thật: “Đa số những người viết báo về âm nhạc ở nước ta chưa được đào tạo chuyên về âm nhạc. Họ hầu như chỉ có kỹ năng viết báo. Và họ nghĩ rằng họ có thể viết về tất cả các đề tài khi họ muốn”. Cái điều này thì trong lĩnh vực điện ảnh cũng vậy… thậm chí kỹ năng viết báo cũng không có, bởi cái kỹ năng quan trọng nhất của một người làm báo là sự trung thực.
Hãy trở lại với cái tên của bài viết này để đặt một dấu hỏi: Có thật sự có một nền điện ảnh của các nhà báo? Nếu lần giở những trang báo có bài viết về điện ảnh trong những năm gần đây thì ta thấy khá nhiều bài tung hô, cổ suý cho những bộ phim dành cho tuổi teen.
Theo như tác giả các bài báo đó thì điện ảnh bây giờ phải là nền điện ảnh giải trí dành cho tuổi teen. Phim có giá trị là những phim được tuổi teen chấp nhận (xin mở ngoặc: tuổi teen đây là tuổi teen con nhà giàu ở các thành phố lớn, chứ không phải tuổi teen con nhà nghèo hay ở nông thôn đâu). Thậm chí có bài báo còn yêu cầu các ban giám khảo chấm giải cho các phim phải dành cho những người tuổi teen. Những U40, U50 , U60 ….. biết gì về tâm lý, sở thích của tuổi trẻ mà ngồi vào đó! Vâng, nền điện ảnh tuổi teen đó chính là nền điện ảnh của các nhà báo.
Tôi xin mượn lời của nhạc sỹ Đặng Hữu Phúc để kết thúc bài viết này: “Không ai có thể lái cả một nền khoa học đi theo ý mình được. Thế nhưng để lái cả một nền nghệ thuật, cụ thể hơn là âm nhạc (hay điện ảnh cũng vậy ), theo tầm hiểu biết của các nhà báo thì hoàn toàn có thể.”
Nguồn: Tuần Việt Nam
1
PHAN VŨ phiêu lãng Giai Điệu Màu
Người đam mê sưu tập những bức họa chiến tranh

