Thần thánh và Bươm Bướm - Phần 2


[Vào lúc : 11:39 - 02/05/2009 | Chuyện mục : Tiểu Thuyết]
Lão ăn mày thở dài không nói. Có lẽ, nửa thế kỷ rồi lão mới lại ngắm hoa. Lão ngẩng đầu lên nhìn những bông hoa gạo đỏ ối giữa bầu trời tháng tư xanh chói, tự nhiên thấy những bông hoa thật rực rỡ, như có hào quang và trong lão tràn ngập một cảm giác hoan lạc kỳ lạ, lâng lâng siêu thoát như thể lão vừa đi vào một thế giới khác. Cải khoảnh khắc giáp mặt với bản lai diện mục của thế giới ấy, giống như là khoảnh khắc bừng ngộ của thiền sư. Lão chợt mỉm cười, một nụ cười vô thức bí ẩn, như là trẻ thơ lại như là triết nhân, mà chính lão cũng không thể nào hiểu được...




THẦN THÁNH VÀ BƯƠM BƯỚM

Tiểu thuyết của ĐỖ MINH TUẤN


      Chương 3

      Sáng hôm sau, ông Cảnh đi ra lò gạch, bà cụ đi lễ ở ngoài chùa. Một lão ăn mày rách rưới đi qua làng rẽ vào nhà ông Cảnh định xin ăn thì phát hiện ra con Tỉnh treo cổ lủng lẳng ở đầu hiên. Lão ăn mày hoảng hốt kêu ầm lên, bà Thật đang giã gạo nghe thấy chạy vội sang hô hoán, lão ăn mày cắt dây đỡ con bé xuống. Cậu Thước đã qua lớp sơ cứu người bị chết đuối nên nhanh nhẹn làm hô hấp nhân tạo cho con Tỉnh. Thằng cu Duy chạy vội ra chùa gọi bà thằng Giác về. Bà nó vừa lật đật chạy về vừa khóc mếu, vừa cầu khấn phật thần cho cháu tai qua nạn khỏi. Bà nó về đến sân đã thấy người đến chật nhà, con bé Tỉnh lại đang nằm rũ trên giường cho bà Thật đánh gió.
      Ông Cảnh cũng đã về đang đứng thừ ra ở đầu giường. Bà nó len vào, khóc mếu hỏi cháu:
      - Cha tiên nhân bố mày, mày không thương bà ư mà mày dại thế hả con! Tại cái thằng bố mày, con bé ngoan ngoan là, thế mà đánh chửi nó.
      - Thôi bà nói ít thôi! - Ông Cảnh bực mình. 
      - May có ông cụ này vào nhà trông thấy nó chứ không thì không kịp - Bà Thật kể. 
      - Phúc đức quá! Cụ quê ở đâu ta? - Bà nội cái Tỉnh hỏi lão ăn mày. 
      - Dạ, cháu ở Thanh ra. Cháu cũng ăn xin ngoài Hà Nội được mấy tháng, nay muốn lên Bắc Giang thăm con cháu nên đi qua làng ta...
      Chiều hôm ấy, ông Cảnh giữ lão ăn mày lại ăn cơm. Ông thịt con gà trống thiến đầu đàn, làm mâm cơm tạ thần linh tổ tiên, đặt tạm cái ống bò gạo lên ban thờ làm bát hương rồi thắp hương rì rầm khấn vái. Lão ăn mày thấy ông Cảnh đứng khấn cũng đứng đằng sau vái theo. Ông Cảnh hơi khó chịu ngoái lại bảo:
      - Sao mà ông phải vái. Bàn thờ nhà tôi chứ có phải chùa chiền gì đâu mà ông vái. Ông đi rửa chân rồi nằm nghỉ lát nữa uống rượu.
      Lão ăn mày ra giếng rửa chân. Cái Tỉnh lặng lẽ kéo cho ông lão gầu nước rồi vào bếp nấu cám lợn. Bà nó hỏi: 
      - Thằng Giác đi đâu biệt tăm biệt tích, con cái nhà...
      - Kệ xác nó! Nó đi càng đỡ ngứa mắt tôi!
       Ông Cảnh gắt bà nó rồi quay vào nhà bê mâm cơm cúng xuống phản, mời ông lão ăn mày ngồi vào hai người uống rượu. Bà cháu cái Tỉnh ngồi ăn dưới bếp. 
      - Nhà ông may đấy. Dân chài chúng tôi ít khi dám cứu người. - Lão ăn mày tâm sự:
      - Sao ông bỏ nghề chài?  Già cả rồi. Đi ăn mày cho đỡ khổ con cái.  Nhục bỏ mẹ! - Ông Cảnh tợp rượu rồi đặt mạnh chén xuống mâm. 
      - Nhục nhưng thu nhập cũng được lắm ông ạ! 
      - Bõ bèn gì! - Ông Cảnh đưa cái tỏi gà cho ông lão - Cụ xơi cái này đi!
      - Sao lại bõ bèn gì? - Lão ăn mày cầm cái tỏi gà chỉ vào mặt ông Cảnh - Mùa rét hơi khổ thôi vì nhiều người ngại rút tay ra khỏi túi cho tiền, chứ mấy mùa kia cũng được ra phết đấy!
      Ăn xong, lão ăn mày bảo: 
      - Sáng nay tôi đi qua phố huyện thấy trẻ kháo có trận chung kết bóng đá thế giới tối nay đấy. Ông có sang nhà ai xem cho tôi đi cùng với. 
      - Cụ cũng thích bóng đà à? - Ông Cảnh ngạc nhiên. 
      - Tôi ngủ ở mái hiên cạnh hiệu giải khát, buổi tối có bóng đá nó hay bê máy ra cửa cho khách ngồi xem uống nước. Tôi hay xem ké - Lão ăn mày tâm sự.

      Ông Cảnh lẳng lặng lấy đèn pin rồi đưa lão ăn mày lên đầu làng vào nhà cậu Hải xem nhờ. Cậu Hải mời hai người vào nhà, nhưng ông lão chối, xin ngồi ở hiên thôi. Ông Cảnh bảo: 
      - Cụ cứ vào nhà ngồi xem đàng hoàng. Nó là cháu tôi không có cái gì phải ngại. Xem xong nó đưa cụ về. Tôi phải về trước, để hai bà cháu nó ở nhà không yên tâm lắm.
      Ông Cảnh vừa về, cậu Hải bảo ông lão: 
      - Hôm nay con nhờ cụ chọn cho con một đội, con đánh cá với mấy thằng, chắc chắn là được. 
      - Chết, tôi đen lắm, không dám chọn cho chú! - Ông lão chối đây đẩy. 
      - Đen là đen thế nào? Cụ là hên lắm. Không có cụ con Tỉnh toi rồi. Cụ cứ chọn cho con. Nếu thắng con chia cho cụ một phần ba! Con nói thật đấy!
      Lão ăn mày ngẫm nghĩ rồi chọn đội Pháp. Cậu Hải hỏi: 
      - Sao cụ lại chọn đội Pháp? 
      - Tự vì hôm tôi đi qua Đền Ngọc Sơn thấy mấy người mũi lõ tôi đi theo xin, một ông chào tôi Bông-giua rồi cho tôi năm trăm đồng. 
      - Thế bọn Tây khác không cho à?
      - Có chớ! Nhưng nó đâu có đá chung kết!

      Buổi tối thật vui vẻ. Lão ăn mày hô rất to cổ động cho đội Pháp. Và cuối cùng thì đội Pháp thắng thật! Cậu Hải thu được bốn trăm ba lăm ngàn tiền cá, chia cho ông lão một trăm. Ông lão cầm tiền mà những ngón tay xương xẩu cứ run bắn lên như bị rét. Cậu Hải không đưa ông lão về nhà ông Cảnh ngay mà giữ lão lại uống rượu cùng đám thanh niên chơi tá lả. Ông lão bị đám cờ bạc giành giật nhờ bốc bài cho son. Một lần bốc được quân K bích, lão tự nhiên khóc. 
      - Cụ làm sao thế - Cậu Hải ngạc nhiên. 
      - Không, có sao đâu. Tôi nhớ thằng nhớn nhà tôi, nó đi biển hay đánh bài. Hôm gặp bão quân bài bay tung toé khắp thuyền, còn con K bích bay xuống biển nó nhao theo rồi mất hút.
      Ông lão vừa kể vừa sụt sịt. Cậu Thắng cười vỗ vai cụ:
      - Thôi ông ạ! Sinh dữ tử lành. Anh ấy đi sang nơi khác còn sướng hơn ông con mình ấy chứ! Con cũng muốn đi một chuyến nhưng chưa được đi ông ạ! Ông bốc cho con đi, 
      - Thôi tôi bốc đen bài anh - Ông lão chối. 
      - Đen thế nào? Anh ấy phù hộ con ù là khác
      Lão ăn mày run run bốc bài cho cậu Thằng ruồi, được quân mười cơ, không ù nhưng bài cậu Thắng về ba. Thắng bảo:
      - Lẽ ra con móm phải mất hai chục. Nay nhờ cục bốc, con tránh được móm, bài về ba, chỉ mất một chục. Thế là cụ làm lãi cho con một chục. Con biếu cụ một nửa là năm ngàn. Cụ thấy ổn chưa?
      - Tôi không dám! - Ông cụ mếu máo. 
      - Tôi gì không lấy! Tiền của con trai cụ phù hộ - Thằng Phong chen ngang. 
      - Thôi chơi đi các bố ơi! Phù hộ đếch gì mà được có năm ngàn – Một cậu xen ngang.
      Ông lão khóc hu hu. Thắng ruồi ném bài vào mặt cậu kia chửi: 
      - Câm mẹ cái mồm mày đi nhé!
      - Sĩ! - Thằng Phong cười khẩy.
      - Đồ ngu! Mày bảo ai sĩ?
      Thắng ruồi nhao sang túm cổ áo thằng Phong. Cậu Hải đang nướng cá dưới bếp thấy thế vội chạy lên can. 
      - Thôi đi các bố ơi! Mới chậm đồ nhắm có một tý thôi đã đòi giết nhau rồi.
      - Thôi, chạm cốc đi! 
      - Cá ao tanh bỏ mẹ!- Thằng Long nói. 
      - Mẹ kiếp, buồn ngủ còn chê chiếu manh!-Thằng Phong nói rồi ngửa cổ ống cạn chén rượu.
      Cậu Hải rót rượu mời mọi người. Lão ăn mày uống rượu, mắt vẫn buồn rười rượi. Hai giờ sáng không thấy lão ăn mày về, ông Cảnh cầm đèn pin đi xuống nhà cậu Hải. Vừa đến cổng ông đã nói oang oang:
      - Bóng bánh gì mà giờ này vẫn chưa giải tán. 
      - A! Mời bác vào đây. Cháu thắng cả, chúng nó đòi lột lại - Cậu Hải hồ hởi - Bác vào làm một chén. 
      - Thôi cậu để tôi đưa ông cụ về...
      - Về là về thế nào! Cụ đang chơi bài. Cho cháu mượn cụ đến mai, cụ bốc bài son lắm.
      - Người ta già cả, cho người ta ngủ chứ! - Ông Cảnh lầu bầu. 
      - Mai ngủ cả ngày! Yên tâm đi!
      Ông Cảnh thở dài quay về. Hôm sau ông Cảnh sai con Tỉnh xuống nhà Hải từ sớm: 
      - Bố cháu bảo mời cụ về ăn cơm!
      Cơm nước xong, ông Cảnh dẫn cụ ra thăm cây gạo và đình làng: 
      - Làng tôi cũng nhiều truyền thống lắm cụ ạ! Cái đình này ngót chín trăm năm rồi đấy! Ấy, cụ đừng đi vào chỗ ấy, mái ngói nát quá rồi, thỉnh thoáng lại có hòn rơi xuống. Đang nhờ mấy chú viết báo xem chính phủ có sửa sang không... 
      Gian nhà ngang đình làng có đặt một bàn bi-a do nhà Tuyết thầu dịch vụ văn hoá xã. Mấy đứa trẻ đang hí húi chơi. ông Cảnh bảo lão ăn mày: 
      - Cụ chơi một ván cho biết. Tôi chiêu đãi cụ? 
      - Tôi có biết chơi trò này bao giờ đâu. 
      - Học thì biết. Vạn sự khởi đầu nan. Phải văn minh lên như đám trẻ chứ cứ vùi đầu mãi vào mấy quân tổ tôm, mấy quân cờ tướng thì bao giờ mới tân tiến được - ông Cảnh chân tình. 
      - Thôi, tôi sắp chết rồi, chả muốn học thêm cái gì nữa.
      Ra đến cây gạo, ông Cảnh bảo: 
      - Cây gạo này cũng già bằng tuổi cụ đấy! Thế mà vẫn nở hoa hơn hớn. Cụ chưa gì đã bi quan!

      Lão ăn mày thở dài không nói. Có lẽ, nửa thế kỷ rồi lão mới lại ngắm hoa. Lão ngẩng đầu lên nhìn những bông hoa gạo đỏ ối giữa bầu trời tháng tư xanh chói, tự nhiên thấy những bông hoa thật rực rỡ, như có hào quang và trong lão tràn ngập một cảm giác hoan lạc kỳ lạ, lâng lâng siêu thoát như thể lão vừa đi vào một thế giới khác. Cải khoảnh khắc giáp mặt với bản lai diện mục của thế giới ấy, giống như là khoảnh khắc bừng ngộ của thiền sư. Lão chợt mỉm cười, một nụ cười vô thức bí ẩn, như là trẻ thơ lại như là triết nhân, mà chính lão cũng không thể nào hiểu được. Ông Cảnh không nhìn thấy nụ cười trăm năm có một này. Đầu óc ông còn đang miên man nghĩ về thằng Giác. Nó vẫn biệt tăm không ló mặt về, không biết đang ở đâu. Trong ông pha trộn những cảm xúc trái ngược, vừa giận vừa thương, vừa mong vừa như thây kệ. ão ăn mày không ngờ một khoảnh khắc ngẫu nhiên dun rủi đã đột ngột biến lão thành sứ giả của cõi vô hình và lão ngày càng toả hào quang, thăng tiến trên con đường bí ẩn của tâm linh.

      Sau hôm cậu Hải nhờ lão chọn đội Pháp thắng cá cược bóng đá, bà Thật cũng mời lão sang uống rượu và nhờ lão thay mặt gia đình sang làng Vồ hỏi vợ cho thằng cả. Lão nể lời đồng ý, nhưng cứ đòi mặc nguyên bộ quần áo hôi hám có lẽ cả năm nay chưa giặt. Bà Thật phải khóc lão mới chịu mặc bộ complet bà thuê ngoài phố huyện, nhưng lão lại khăng khăng đòi khoác theo cái tay nải ăn mày. rong cái tay nải này nào có cái gì đáng giá đâu, chỉ có mấy cái ống bơ, chai lọ, một cái bát và một cái thìa, một cái túi vải đựng cái răng hàm của lão bị rụng cách đây tám tháng, lão cố giữ để trao cho thằng út, nếu lão chết nó sẽ chôn cái răng theo lão cho xuống cõi âm lão không phải là thứ đui què mẻ sứt. Bà Thật nài nỉ thế nào lão cũng không chịu buông cái tay nải ra: 
      - Bà thông cảm, không đeo nó tôi cứ thấy người mình như là đi mượn! 
      - Mượn thì đã sao! 
      - Bà mượn tôi thì được, chứ tôi không mượn ai. Đói thì tôi xin, không mượn!
      Bà Thật đành thở dài chịu thua, nhưng lừa lúc ông lão ngủ trưa, lén đem bộ quần áo và cái tay nải đi giặt. Tỉnh dậy, nhìn ra sân thầy quần áo và tay nải của mình bay phất phơ trên dây, ông lão giận quá khóc hu hu. 
      - Bà khinh tôi thì đừng nhờ tôi nữa. Quần áo lượt là...Ôi giời ơi, nhục cái thân tôi... 
      - Thôi cụ ơi con xin lỗi cụ! - Bà Thật hốt hoảng - Con không biết cụ kiêng. 
      - Bà không biết, phong tục chúng tôi...mặc sạch ai người ta thương, mặc bẩn quen rồi...Bao giờ mới lại như lúc chưa giặt....

      Ông lão đùng đùng cởi áo complet, vơ quần áo đi về nhà ông Cảnh. Bà Thật khóc lóc. Thằng con bà quát:  “Nói mãi mẹ không nghe! Chỉ mê tín dị đoan. Thánh đéo gì cái lão ăn mày ấy! Bây giờ có phải xúi quẩy không?” Bà Thật chỉ biết sụt sùi khóc. Bà thắp hương khấn chồng:  “Ông ơi! Ông bỏ đi để tôi một thân một mình lo hết việc lớn việc bé. Tôi chỉ muốn tốt đẹp cho nó, mà nó mắng tôi!”.
      Ông Cảnh biết chuyện sang nói với bà Thật:
      -Hỏi vợ thì việc gì phải com-lê cà-vạt. Ăn mặc xuềnh xoàng mà người ta vẫn phải trọng, thế mới có giá chứ! Còn khăn là áo lượt vào thì khác gì diễn kịch! Thôi thì bây giờ chuyện đã thế rồi, cứ để cho cụ ấy mặc bộ quần áo cũ vừa giặt, chắc là cụ ấy vui lòng thôi.
      Bà Thật đành chấp nhận, đem trả bộ complet, tiếc đứt ruột vì thuê mất bốn chục ngàn mà không được dùng vào công vào việc. Ông Cảnh khuyên lão ăn mày nên giúp bà Thật, lão nể lời chấp nhận. Quả lão cũng là con người khí khái. Chắc là con trai bà Thật sẽ đẻ được cậu con trai bướng bỉnh như lão, nhưng sẽ tiến bộ hơn, nếu có phóng xe máy ngã gãy răng nó cũng không đến nỗi tìm nhặt cái răng vừa văng đi để bảo tồn nguyên vẹn thân xác cho kiếp sau như lão. hấm thoát đã hai tuần từ khi lão ăn mày bước chân vào nhà Cảnh.

      Sau đám ăn hỏi nhà bà Thật, lão đã đòi đi, nhưng liên tục có người rước lão về nhờ vả. Người thì nhờ sang cát cho các cụ, kẻ thì nhờ đặt nóc ngôi nhà mới dựng, kẻ lại nhờ hái lá trong vườn chữa bệnh cho con. Lão ăn mày vui vẻ nhận lời, tuy nóng ruột như lửa đốt. Ngày nào cũng ăn cỗ, uống rượu, da dẻ lão nhuận sắc hẳn lên. Lão bảo ông Cảnh:
      - Tôi muốn tranh thủ lúc đang được ăn no, da thịt đỡ nhăn nheo chụp bức ảnh thờ. Nếu về quê gặp được con cháu thì đưa cho chúng nó thờ. Chẳng may có chết dọc đường thì người nào chôn hộ cũng có cái ảnh để nộp cho uỷ ban, biết đâu họ chẳng in báo cáo phó cho người nhà tôi biết.
      Ông Cảnh dẫn lão ăn mày ra phố huyện chụp một kiểu ảnh chân dung hết tám ngàn, ép plactic hai ngàn rưỡi. Lão ăn mày cứ đòi tự trả tiền. Lúc chụp, ông Cảnh khuyên nên mặc áo vét cho sang trọng, cái đồ thờ phải chỉn chu, nhưng ông lão ăn mày bảo sợ mặc đẹp quá con cháu không nhận ra. Ông Cảnh chụp chung với lão một kiểu ảnh kỷ niệm khoác tay nhau đứng trước phông vẽ tháp Effen. Rồi hai người đi ăn cơm bình dân, gọi đậu rán, nắm tôm, canh rau mùng tơi và cà pháo. Ăn xong, ông lão định chia tay, nhưng ông Cảnh bảo: 
      - Duyên trời đưa cụ đến cứu con tôi. Tôi chưa có gì trả ơn cụ. Cụ về nhà tôi xúc cho cụ mấy đấu lạc đi đường cụ có cái ăn lúc nhỡ nhàng...
      Ông lão gật đầu. Về nhà, ông Cảnh đong đầy tai nải lạc đã bóc biếu thêm năm mươi ngàn đồng. Bà Thật cũng mang cho ông cụ một cân gạo nếp và một quả bí ngô. Mấy người khác cho khoai, cho mộc nhĩ, măng khô. Ông Cảnh cho lão cái túi du lịch cũ. Lão ăn mày cho hết quà vào túi rồi khệ nệ xách thử, thấy nặng quá định bỏ bớt lại nhưng cái gì cũng tiếc. Ông Cảnh tặc lưỡi: 
      - Cố mang nặng một vài ngày, ăn vơi đi là nhẹ ngay thôi!
      Trước lúc lão ăn mày đi, ông Cảnh sực nhớ ra điều gì chạy vội vào trong buồng lấy một cái tiêu cũ đưa cho lão: 
      - Tôi có cây tiêu này bố tôi để lại. Tôi không biết thổi. Cụ mang đi mà dùng. Vừa thổi tiêu vừa xin người ta dễ cho hơn là nói nước bọt suông.
      Ông lão cảm động: 
      - Hồi trẻ tôi tham gia văn nghệ đại đội cũng hay thổi sao thổi tiêu trong hội diễn, liên hoan....
      Ông lão lấy vạt áo lau cây tiêu rồi ngậm miệng thổi thử. Bỗng có con thạch sùng nhỏ từ trong ống tiêu chui thẳng vào miệng lão làm lão bị sặc, nôn oẹ ra mật xanh mật vàng. Không biết do bị choáng vì nôn hay do quá sợ hãi mà lão ăn mày ngất xỉu. Ông Cảnh hốt hoảng bế thốc lão vào giường đánh gió, cho uống nước gừng. Nhưng lão ăn mày ngày càng mê man bất tỉnh. Lão ăn mày ốm liệt cả tuần, nhà ông Cảnh thay phiên nhau chăm sóc. Cái Tỉnh thì hầu như suốt ngày đêm trực bên giường lão thuốc thang, cơm nước, thay chiếu, đổ bô. Đến ngày thứ tám, lão ăn mày thều thào nói với cái Tỉnh: 
      -Bảo bố mày cho tao ra vườn, tao thèm nằm dưới lá dây, trong này ngột ngạt lắm...
      Ông Cảnh cho khiêng cái chõng ra vườn, đưa lão ăn mày ra nằm cạnh cây sung. Đến chiều thì lão bảo cái Tỉnh gọi ông Cảnh ra trăng trối: 
      - Tôi biết sắp chết nên xin ra vườn để ông đỡ bị xui xẻo. Ông tốt với tôi quá...làng ông cũng tốt...Đến nhà ông tôi tự nhiên được quí trọng...uống rượu,... ăn cỗ...rồi được nhìn hoa...ông...chôn tạm tôi đâu đó...lấy tiền trong túi tôi mà thêm vào lo cho tôi...Rồi ông viết cho tôi cái thư gửi về quê...
      Nói đến đấy thì ông lão thở hắt ra. Ông Cảnh ứa nước mắt, rồi khấn to: 
      - Cụ ơi! Duyên số đưa cụ đến nhà tôi, cụ cứu được con tôi thì cụ lại phải đi...mạng đổi mạng...cụ ơi...cụ có thiêng thì phù hộ cho thằng Giác nhà tôi trở về...làm người con có hiếu.

      Khấn xong, ông Cảnh báo cho bà con trong làng. Người đến viếng đông lắm. Mỗi người góp tiền ra phố huyện mua cho lão cỗ áo quan, Uỷ ban cho một chuyến xe công nông chở về tận nơi. Ông Cảnh cho bỏ vào áo quan cây tiêu và hai tay nải đầy quả làng cho ông lão. Đám tang ông lão ăn mày thế mà to. Đích thân chủ tịch Chiến đọc điếu văn nói về chủ trương xoá đói giảm nghèo của địa phương, về truyền thống "lá lành đùm lá rách" của con người Việt Nam. Hàng ngàn người đưa ông lão ra đồng. Nhiều người hái hoa gạo, hoa rong riềng, hoa bưởi, hoa thiên lý kết thành những vòng hoa chất đầy xe công nông. Các cụ bà mặc áo dài nâu, cổ đeo tràng hạt tay cầm phướn tre. Không có ai đeo khăn tang. Nhưng đám tang ông lão thật xúc động có thể trở thành một thành tích văn hoá trong báo cáo cuối năm của xã hay một hiện tượng tâm linh độc đáo của riêng làng Bái hạ, cứ như thể thần thành chọn đất này để sà xuống, làm các làng bên phải tiếc rẻ, thèm thuồng. Ấy là bởi kẻ xấu số là một lão ăn mày, có tới hai ba lần chứng tỏ mình là con người của vận may, nên cái chết tức tưởi, cô đơn mới thăng hoa đến thế. Nếu người chết là một thằng mắc toi bảnh bao nghiện ngập và cờ bạc trong làng thì chưa biết nước mắt nhiều hơn hay lời đàm tiếu nhiều hơn. Thế mới biết khoảng cách giữa kẻ ăn mày và người nhà Thánh cũng chỉ mong manh như sợi tơ nhện đực! Nhưng lão ăn mày cũng khéo chọn đất chết. Nếu lão quá chân lên làng Phú Đại, thì chó béc giê của mấy nhà giàu đã làm lão bật ra khỏi cửa, chết rấp ngoài đường, lấy đâu còn số đỏ với vận may như ở cái làng Bái hạ nghèo xác nghèo xơ với cây gạo già hơn cả tuổi lão này.

      Đám ma lão ăn mày to quá, làm ông Cảnh tự nhiên thấy lo, không biết đó là điềm lành hay dữ ập đến nhà ông. Ông Cảnh đến hỏi cụ Đồ, cụ bảo nên xây cái miếu thờ cạnh gốc sung, chỗ ông lão chết, sẽ được phù hộ. Ông Cảnh về mua năm trăm gạch, thuê thợ từ lang Đông Trực sang xây miếu thờ. Thợ đào đất để làm móng lại đào trúng cái hố thằng Giác chôn số vàng lấy trộm của bố. Nếu là thợ xây thường thì số vàng ấy ông Cảnh sẽ chẳng bao giờ biết. Nhưng đây là thợ chuyên xây đình chùa miếu mạo, biết sợ cõi vô hình, coi sự gian trá là trái đạo trong nghề nên đã nộp trả ông Cảnh không thiếu một thỏi. Cái ông lão thế mà thiêng thật! Ông Cảnh thầm khấn tạ ơn lão ăn mày, rồi lại quả cho đám thợ một thỏi, "Lộc bất tận hưởng". Ông biết đâu rằng, chính cái lúc ông cầm lại số vàng này là lúc thằng con ông bắt đầu trở thành kẻ sát nhân. 

 
      Chương 4
      
      Thằng Giác lang thang ngoài Hà Nội ba tuần thì gặp thằng bạn rủ rê lên Lai Châu buôn thuốc phiện. Vì thế, nó quyết định quay về lấy số vàng cất giấu trong vườn. Cũng đã mấy lần nó nóng lòng muốn về đào số vàng lên cho yên tâm, nhưng một nỗi sợ vô hình ngăn nó lại. Nó sợ bắt gặp bố nó hay gặp người láng trước khi nó về đến khu vườn. Nó chỉ muốn kín đáo lấy vàng đi, không muốn ai biết nó trở lại làng. Nên đã có lần nó đã ra bến nhảy lên xe, nhưng xe vừa chuyển bánh nó lại nhảy vội xuống. Lần này nó về thật. Xuống bến xe đầu cầu Gát trời đã sẩm tối, nó ra vào phố huyện ăn phở, uống rượu với bảy cái chân gà, rồi hỏi mua lại của ông hàng phở một cái thuổng nhỏ với giá mười bốn ngàn. Rượu vào hơi chuếnh choáng, nó béo má cô con gái ông hàng phở lúc trả tiền, rồi phẩy tay: "Thôi, còn một ngàn khỏi trả lại, bo đấy! Phở hơi bị mặn. Bai!"

      Ra đến đồi sim, thằng Giác nằm nghỉ chờ cho tối hẳn. Nó miên man nhớ lại những bông hoa sim tím trong trò chơi đánh trận giả trên đồi những năm học cấp một. Nhớ cái lần bà nó dẫn nó ra Hà Nội thăm một người ngày xưa sơ tán ở nhà nó, qua chợ huyện bà nó mua mấy ống bơ sim làm quà, mấy đứa trẻ nhận rồi vứt lăn lóc. Mẹ lũ trẻ còn bảo: "Đừng ăn mất vệ sinh". Nó ngồi trong chuồng xí tình cờ nghe được, vừa tủi thân vừa điên tiết. Lũ trẻ con thành phố suốt ngày ăn kẹo cao su, rồi bim bim, kem, uống Cocacola, thiết gì mấy thứ quả trên đồi đã gắn với tuổi thơ của nó. Từ đó, nó nung nấu một ý định sâu kín và quyết liệt: phải làm giàu. Nó sẽ có tiền, ăn mặc thật mốt, phóng xe phân khối lớn đỗ xịch trước nhà con mụ kia, tháo kính râm ra, vứt bọc kẹo cao su trên bàn cho bọn trẻ rồi cầm mobaiphôn gọi bia lon Heineken chiêu đãi ông bà chủ ngay trong nhà họ. Ngày xưa, chúng nó ở nhà mình mấy năm liền, như người trong nhà, ăn chung ngủ chung thật là vui. Thế mà hết chiến tranh về thành phố, bà mình ra thăm vào tắm trong bồn không biết cách khoá mở rominet làm tung toé nước ra thảm, chúng nó cứ lừ lừ khó chịu như muốn tống khứ đi cho rảnh mắt. Mình sẽ có tiền xây nhà mấy tầng, bồn tắm to hơn của nhà chúng nó, cho bà thoả thích làm tràn nước, có ngập cả dãy phố cũng chẳng sao. Đứa nào nói láo nó cho một cái tát.

      Lúc đầu, cái khát vọng làm giàu trong thằng Giác chỉ là một biến chứng của niềm uất hận muốn sửa sang cái diện mạo đã bị một lần lem luốc trong một khoảnh khắc tái ngộ dớ dẩn lúc hàn vi. Dần dần, nỗi khao khát giàu sang, với những vật thể kim loại bóng loáng và những xa xỉ phẩm mang nhãn mác ngoại cứ lấn dần tâm trí, che mờ dần những hình ảnh đồi sim, hoa mua, và những người thân lam lũ tội nghiệp như bà nội nó. Thế rồi, chẳng biết từ lúc nào, trong tâm tưởng của nó, cái xe phân khối lớn và cái villa đồ sộ trong mơ ước không còn gắn liền với hình ảnh thân thương của bà nó nữa. Bà nó chỉ được tắm trong cái bồn tắm tưởng tượng của nó một đôi lần. Bây giờ thì cái villa và cái bốn tắm trong đầu nó đã sạch bong không dấu vết những mảnh đời lam lũ. Thậm chí, không biết từ lúc nào, nó thấy khó chịu với những hình ảnh đó, cảm thấy ký ức lam lũ như một vật cản cho sự lựa chọn tương lai của nó. Tương lai của nó như một cái hè phố văn minh mà những bà già lam lũ như bà nó, mẹ nó không thể gánh hàng rong đi kiếm từng đồng xu ở đó. Rốt cục, chính nó lại là cảnh sát xua đuổi những hình ảnh lam lũ trong ký ức  đồng quê buồn thảm ra khỏi cái đại lộ mênh mông hào nhoáng của cuộc  sống văn minh mà nó ước mơ. Đến lúc bà nó và bố nó cứ đưa những chuyện tổ tiên, cây gạo ra đay nghiến nó, thì mối hận thù với quá khứ càng trở nên sâu sắc và mãnh liệt. hằng Giác ngày càng vô cảm với những hình ảnh quá khứ, những ký ức đồng quê. Khát vọng đổi đời, mơ ước giàu sang cùng cái cảm giác khoái lạc rồ dại khi tưởng tượng mình đang đội mũ bảo hiểm phóng 120km/giờ trên chiếc mô tô phân khối lớn mà cả huyện chỉ nó có đã làm thằng Giác trở thành con người khác. Nằm trên đồi sim xưa, nó tiện tay vặt một quả sim  chín nhấm nháp, chỉ thấy ngòn ngọt, chan chát, chẳng thấy cảm giác  nao lòng như thuở xưa. Nó phì một cái, thổi nửa quả sim bắn lên bầu trời đêm, như một cử chỉ đoạn tuyệt, rồi vớ lấy cái thuổng đi một mạch về nhà, men theo đường tắt rẽ vào vườn.

      Thằng Giác rón rén rẽ lá đến gốc cây sung tìm cây bưởi nó trồng trên cái hố chôn vàng, nhưng không thấy. Ở chỗ đó đã xuất hiện một cái hố như đường rãnh, bên dưới xây gạch như là chân móng. Nó hoảng hốt nhìn quanh, ngỡ mình bị lạc. Nhưng cuối cùng thì nó vẫn phải tin vào một sự thật phũ phàng là cây bưởi, bọc vàng đã không cánh mà bay. Người đầu tiên nó nghĩ đến là ông Bổng. Cái khoảnh khắc ông lão cắp rổ bèo đi qua nhìn thấy nó vun đất vào gốc cây bưởi đã trở thành một ký ức rồ dại, bắt rễ ngày càng sâu vào tâm trí nó. Đích thị lão ta rồi! Nếu lão không đánh cắp thì lão cũng chỉ điểm. Xây móng gì ở đây hay chỉ là kiếm cớ đào bới hớt tay trên số vàng của nó? Đám nhà quê mọi rợ! Máu nó sôi lên và bằng những bước chân mau lẹ, quyết đoán của định mệnh, nó ập ngay đến nhà lão Bổng. Nó rẽ vào bếp rút con dao bầu ở chạn rồi xộc thẳng lên nhà.

      Ông Bổng đang nằm trên phản phe phẩy cái quạt nan đập muỗi. Trời oi bức quá, trằn trọc mãi không ngủ được, ông nằm nghĩ miên man lo cho con lợn nái bữa nay không hiểu sao chê cám. Bà Bổng mất đã bốn năm. Lần ấy bà đi tát nước ngoài đồng Cõi dẵm phải mảnh sành rồi về bị uốn ván sốt co giật chết vào tuổi năm chín. Mấy người con lớn đều học hành lập nghiệp ở xa, đứa đi học kỹ thuật tên lửa ở Nga, đứa vào Lâm Đồng xây dựng khu kinh tế mới, chỉ còn mình ông lọ mọ ở nhà chăm nuôi mấy con lợn nái. Ngày nào ông cũng vớt rổ bèo đi qua khu vườn nhà Cảnh. Người ta bảo ông Bổng hiền lành chăm chỉ nhất làng, lúc nào cũng cười, thật thà đôn hậu. Dạo thằng Giác còn bé, ông Bổng hay cõng đi ra đồng bắt cào cào châu chấu, rút rơm nếp tết cho nó những con vật, những cái đèn ông sao. Có lần cắt lá dứa gai làm chong chóng cho bọn trẻ con, ông Bổng bị rắn hổ mang cắn suýt chết, may ông biết mẹo ngoái người lại đằng sau với nắm cỏ nhai giải độc. Lớn lên, thỉnh thoảng ông Bổng nhắc lại những kỷ niệm tuổi thơ của thằng Giác, nó chỉ ừ hữ cho qua chuyện. Nó đã phát chán, phát sợ mấy cái trò chơi vớ vẩn, mất vệ sinh và nguy hiểm của trẻ nhà quê: chọi cỏ gà, đánh khăng, ném hoa sen...Cái thế giới của ông Bổng nó đã "bai bai" rồi, còn cái thế giới rực rỡ và hùng dũng của nó thì ông có bao giờ được biết...
      Thằng Giác cầm dao bầu lao thẳng vào phản chẹn ngay cổ ông Bổng: 
      - Nằm im! Vàng của tôi đâu? Đưa trả ngay không tôi giết. 
      - Vàng nào?... Khôôông biết - Ông Bổng ú ớ
      - Vàng chôn ở vườn nhà tôi, chỉ có ông nhìn thấy, ông đào của tôi hay ông chỉ điểm cho ai? Nói mau! - Thằng Giác buông tay cho ông Bổng nói, nhưng dí mũi dao bầu vào họng ông. 
      - Giác ơi... ông không biết... 
      - Nói! - Thằng Giác gằn giọng. 
      - Đừng Giác - Ông không biết thật mà...
      Ông Bổng van vỉ. Thằng Giác vung tay...


      *
      Những hôm có chợ phiên, vợ Thao thường gánh trứng vịt đi bán từ tờ mờ sáng. Mọi lần chị thường đi tắt qua đồng Cõi, sáng nay nghĩ thế nào chị lại đi qua cổng Chùa về phía có cây gạo đầu làng. Đến gần cây gạo, chị Thao chợt thấy có ai như ông Bổng ngồi dưới gốc gạo. 
      - Cụ Bổng làm gì ra đây ngồi sớm thế! - Chị vồn vã đánh tiếng từ xa. 
      Không thấy người đó trả lời, chị gánh trứng tiến lại gần thì thấy rõ ông Bổng đang ngồi nghẹo đầu tựa vào gốc gạo như đang ngủ trên tay cầm một thẻ hương. 
      - Say rượu hay sao mà ra đây ngủ thế này cụ Bổng ơi!
      Vẫn không thấy ông Bổng trả lời. Chị Thao vội đặt gánh trứng lại bên ông Bổng gọi.
      - Dậy đi thôi, Cụ ơi!
      Ông Bổng không nhúc nhích. Chị Thao vỗ vào vai thì ông Bổng ngã lăn ra. Chị Thao hốt hoảng cầm tay bắt mạch, nghe hơi thở, khi phát hiện ra ông Bổng đã chết, chị lẳng đòn gánh chạy vội về báo cho làng biết.

      Làng lại gánh thêm một cái tang nữa của một ông lão cô đơn. Đám ma không to như đám ma ông lão ăn mày vì dẫu sao ông Bổng cũng không có tư cách người nhà Thánh san sẻ vận đỏ cho dân làng, nhưng cũng là một đám tang đầm ấm và cảm động. Mọi người thở dài thương ông lão xấu số, ra đi lúc con cái đều ở xa. Nhưng không ai nghi ngờ gì về cái chết của ông vì cái tư thế cầm thẻ hương ngồi chết ở gốc gạo làm yên lòng cả người có đầu óc mê tín lẫn người có tư duy khoa học. Người tin vào điều thiêng thì tìm thấy trong cái chết của ông những uy lực vô hình của cây gạo huyền thoại. Còn người có đầu óc khoa học thì cho rằng ông già cả lại rượu say ngồi ngoài trời qua đêm nên trúng gió mà chết. Cũng có đôi ba người thắc mắc, nhưng đều bị mọi người gạt đi. Những cái vô lý mà những đầu óc thám tử có thể khai thác lại chính là cái hợp lý của điều thiêng. Đến nỗi, nếu như ông Bổng có bị nằm liệt giường chiếu lâu nay thì việc ông tự nhiên ngồi nghẹo cổ bên gốc gạo chỉ chứng tỏ thần linh ma quỷ đã có cách riêng đưa ông ra đấy để trình diện hay làm gương cho kẻ khác. Cái chết của ông Bổng hoàn toàn hợp lý và hợp pháp.

      Thằng Giác quả là đã có một ý tưởng thiên tài khi nó đưa xác ông Bổng ra đặt ở gốc gạo. Nhưng nó hoàn toàn là một giải pháp tình thế, bởi vì tuy có những hành vi đầy sát khí nhưng nó không chủ tâm giết ông Bổng. Nó vung tay lên dơ dao bầu doạ ông Bổng hòng bắt ông phải khai ra, nhưng ông Bổng không những không khai mà còn định kêu lên làm nó hoảng hốt ném dao bầu chẹn chặt cổ ông để chặn những tiếng la làng sắp vọt ra cửa miệng. Thế đấy, nó chỉ định chặn lời nói của ông, nó đâu có định giết ông! Nhưng ông đã chết vì bị nó bóp cổ. Thằng Giác đang lấy hết gân sức chẹn cổ họng ông già tội nghiệp thì chợt thấy một cảm giác như cái lốp xe vừa xẹp. Nhận thấy ông già đã chết, nó hoảng hốt bỏ chạy ra sân, định trốn đi, nhưng rồi lập tức nó định thần quay lại tìm con dao bầu cất vào góc buồng, dọn dẹp lại chỗ gối chiếu vừa xô lệch vì vật lộn rồi đặt ông Bổng nằm lại ngay ngắn trên giường. Nó còn bình tĩnh gài lại cổng trước khi chạy vọt ra phía điếm canh...

      Thế nhưng cái kiến thức về hình sự mà nó thu lượm được từ những băng hình Mỹ về các thám tử điều tra các vụ giết người đã mách bảo cho nó thấy cái nguy cơ nó sẽ bị công an phát hiện. Dấu tay của nó đầy rẫy trên hiện trường. Chỉ cần ai đó khả nghi báo công an khám nghiệm là nó sẽ đi đứt. Nghĩ vậy, thằng Giác phân vân lắm, nó ngồi nép vào trong góc tối của điếm canh suy tính cách phi tang. Nó đã nghĩ đến chuyện cho ông Bổng vào bao tải đem ra ném xuống ao, nhưng cái ao nông choèn ngày nào chả có người chăn vịt, vớt bèo, sớm muộn cái xác cũng lộ ra. Vả lại, thấy ông Bổng tự nhiên mất tích, sẽ nhiều người nghi ngờ, chú ý, báo chính quyền tìm kiếm. Thế rồi, không biết có phải vong linh ông Bổng mách bảo nó hay không mà tự nhiên nó tìm ra cho ông một cách chết vừa thiêng vừa hợp lý lại vừa công khai sạch sẽ. Phải đưa xác ông ra gốc gạo, đổ vấy cho ma quỷ thần linh và những ngọn gió độc lang bạt trong đêm tối! Thằng Giác vẫn băn khoăn, nhưng rồi cũng liều làm theo phương án ngửa bài này. Nó quay vào loay hoay cõng xác ông Bổng, ra đến sân sực nghĩ ra phải có bó hương lại cõng ông quay vào quờ quạng trên bàn thờ mãi làm rơi cả cái đèn đánh xoảng làm nó hết hồn...

      Đặt ông Bổng vào gốc gạo gài thẻ hương vào tay ông xong, nó quỳ xuống vái ông ba vái rồi cắm đầu chạy thẳng về phía đồi sim gần phố huyện. Khi nằm vật xuống một cái hốc đầy hoa mua, nó mới thở phào yên tâm với cảm giác an toàn. Nhưng lúc đó nó mới bắt đầu thấy rờn rợn vì nhớ lại những việc vừa xảy ra. Thế là nó thành kẻ giết người rồi ư? Không, nó có thù oán gì ông lão đâu, nó chỉ tìm cách lấy lại số vàng của nó. Nó buộc phải bóp cổ ông nếu không sẽ lộ, không ngờ ông lão chết. Nếu đó là giết người thì chỉ là ngộ sát, là tự vệ quá tay thôi. Ông lão xấu số vì đã có một khoảnh khắc nhìn thấy nó trong vườn, khoảnh khắc ấy cắm sâu vào ký ức điên cuồng của nó như một cái gai ngày càng tấy nhức, nó phải nhổ bỏ. Nó chỉ muốn xoá sổ một ký ức cản trở sự lựa chọn tương lai của nó. Nhưng ký ức về ông Bổng không chỉ là cái khoảnh khắc cắp rổ bèo tây đi qua rặng duối mỉm cười với nó. Cuộc đời ông là một chuỗi ký ức mà rốt cục đều trở thành buồn tủi - từ những ký ức vụn vằn với thằng Giác và đám trẻ chăn trâu, tới những ký ức huy hoàng về những ngày hoạt động du kích treo cờ lên cây gạo cùng bố nó. Thì nó đã chọn ông một chỗ chết thật tương xứng với chỗi ký ức lung linh, thăm thẳm đó. Nó trả ông từ thế giới đời thường lam lũ về thế giới huyền thoại, hoá kiếp cho ông từ thân phận vô danh thành một cái bóng huyền ảo xoay vòng mãi xung quanh cái đèn kéo quân của ký ức cộng đồng. Thằng Giác đâu biết nó vừa làm cho ông Bổng trở thành bất tử!
 
      Ông ấy già rồi, cũng chả mấy mà chết. Thằng Giác tự an ủi, cố xua đi những liên tưởng nối nó với ký ức. Nó lái ý nghĩ về hiện tại và tương lai. Số vàng chôn được đã mất rồi, bây giờ tay trắng lang thang, lại vướng vào một vụ án mạng không biết bao giờ sẽ bị phanh phui. Phải làm gì đây để sống, để thoát tội và để thực hiện được những điều hằng mơ ước. Chiếc xe Win có lẽ còn xa vời, nhưng chẳng lẽ không có một căn buồng, một cái tivi và một cái đầu Video loại xịn để xem băng? Nó thấy cuộc đời trước mắt nhiều chông gai và bế tắc. Ước gì nó có phép lạ trong nháy mắt bay vù sang Mỹ, dù không mua được trực thăng và tàu thuỷ như các triệu phú siêu sao trong các phim mà nó đã xem, thì ít nhất cũng có thể mua được một khẩu súng lục xinh xắn; không dùng bắn ai nhưng thỉnh thoảng có thể rút ra bắn vỡ một chai bia vừa uống hết hay hoá kiếp nhanh một con gián trên tường. À mà bên Mỹ làm gì có gián nhỉ? Hay là xuống Hải Phòng thử tìm cách vượt biên? Nghe nói bên Mỹ có cái bang California toàn người Việt, nó chả cần biết tiếng Anh cũng có thể sống được. Rồi sẽ học dần, bên đó có tiền trợ cấp cho người thất nghiệp và có học bổng cho những người muốn học...

      Thằng Giác miên man nghĩ những hướng đi cho cuộc đời phía trước, đắm mình vào trong những toan tính vừa ngây thơ ấu trĩ vừa táo tợn đến hồn nhiên. Khối người nhìn nước Mỹ, nhìn thế giới giản đơn như nó rồi háo hức lao đi như con thiêu thân rồi bị cuộc sống thực tế của các trại tỵ nạn và các xứ sở văn minh nhào nặn lại bộ óc để có thể phân biệt được sự khác nhau giữa băng hình và cuộc sống. Thằng Giác chưa mảy may biết được điều này. Nó muốn phóng thẳng vào tương lai với tốc độ của đĩa CD, thay đổi một thế giới chỉ bằng một ngón tay bấm số trên cần điều khiển. 
 

( cón nữa)
| Thảo luận(0) |
Viết Thảo luận
Hình vui
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
Mở HTML
Mở UBB
Mở hình vui
Ẩn giấu
Hãy nhớ
Tên gọi   Mật khẩu   Khách không cần mật khẩu
Địa chỉ web   Email   [Đăng ký]
               

 

Những bài mới nhất