Một cảnh giới đầy hoa và gió


[Vào lúc : 11:21 - 29/04/2009 | Chuyện mục : Tư liệu cá nhân]
Tập thơ “Trong bóng người xưa” của khổ chủ Lê Thiếu Nhơn được Liên hiệp Văn Học Nghệ Thuật TPHCM tài trợ in năm 2006, sau đó được Hội nhà văn TPHCM trao Tặng thưởng năm 2007. Khi tập thơ vừa in xong, tôi đã tự viết lời quảng cáo khá “hoành tráng” nhờ cậy các trang web loan tin, may mắn bán được…hơn 100 cuốn. Còn lại gần 900 cuốn, tôi vừa hăng hái vừa nồng nhiệt đi tặng suốt hai năm mới hết. Hú vía! Mới đây, nhà thơ Đỗ Minh Tuấn cao hứng viết một bài phê bình về “Trong bóng người xưa” dài hơn 6000 từ, được Evan in hai kỳ. Để làm tư liệu cá nhân, tôi xin gộp lại thành một bài. Chân thành cảm ơn thịnh tình của nhà thơ Đỗ Minh Tuấn! Bạn bè nào cảm thấy thích thú thì mời ghé mắt qua chốc lát!




Một cảnh giới đầy hoa và gió

        (Đọc "Trong bóng người xưa" –Thơ Lê Thiếu Nhơn)

ĐỖ MINH TUẤN

    
Không phải ngẫu nhiên Lê Thiếu Nhơn đặt tựa đề tập thơ của mình là Trong bóng người xưa. Tràn ngập từng trang thơ bóng dáng những con người chỉ còn trong kỷ niệm, những người tình cũ, những bạn bè xưa, những người vô danh đã vĩnh viễn dưới mồ và những tiền nhân phủ bóng lên sông núi. Nhưng cái thế giới của bóng người xưa trong thơ Nhơn không phải là thế giới ma quái của Liêu Trai hay của phim kinh dị, mà đã có lúc trở thành một cảnh giới thi ca dịu lành thanh thản đầy gió, đầy hoa, nơi mọi lẽ đời mọi chân lý, lãng quên và bất hạnh chung sống trong một cõi từ bi khi thi nhân bừng ngộ chân lý Thiền trước một nụ cười hay một cánh hoa bất chợt…

Một chút hoài cổ, một chút ưu tư, một chút se bực dọc lòng trước những đổi thay của thế thái nhân tình, thơ Lê Thiếu Nhơn lắng đọng những cảm xúc suy tư và chiêm nghiệm của một người tình thủy chung, nhân hậu trong những chia xa và mất mát của tình yêu. Nhà thơ chống lại hư vô, chống lại lãng quên bằng mọi cách. Người xưa, gió xưa và những kỷ niệm xưa  ám ảnh từng ngày sống của thi nhân, nhưng vĩnh viễn chẳng bao giờ trở lại. Nỗi tiếc nuối của M. Proust, kẻ miệt mài tìm lại thời gian đã mất thấm sâu từng câu chữ trong thơ anh. Nhà thơ như kẻ bị quá khứ hút hồn, trở nên dửng dửng chán ngán và bất lực trước đô thị  của thời  hiện tại, một thứ thùng rỗng kêu to hào nhoáng bên ngoài để ma mỵ che giấu hàng triệu kiếp người đau khổ. Cho nên thi nhân chẳng buồn đối thoại. Anh ngoái đầu về quá khứ đối thoại với những tiền nhân “râu tóc bạc phơ” về những nỗi đau văn hóa có tầm thời đại được nén lại, thấm sâu và cô đặc lại trong những ẩn dụ thi ca mang dáng dấp thơ xưa…

NHÂN TÌNH ÁO GIẤY VẪN NGỒI ĐÂU ĐÂY

Khi thế kỷ 21 ưỡn ngực đứng vênh vang ngoài ngưỡng cửa, hàng tỷ người hân hoan chào đón, mở sâm-panh, bắn pháo hoa, gửi thông điệp hy vọng tương lai, thì nhà thơ Lê Thiếu Nhơn  đón chào thế kỷ mới bằng cặp mắt dè dặt, bằng ngón tay gõ phím ngập ngừng và một tuyên ngôn hướng về quá khứ, lấy quá khứ làm thước đo giá trị của cuộc đời:
Gõ lên bàn phím bài thơ kỳ vọng thế kỷ 21
Chiều càng xa càng nhớ
Hương càng xa càng nồng
Gõ ngập ngừng từng ngón tay co rút
Thiên hạ lạ lùng hơn chúng ta tưởng tượng
Cuộc sống thế mới vui, mình sống thế mới buồn


Nhà thơ hiểu cái tâm thế ấy của mình không đem lại niềm vui. Nhưng những xích xiềng của quá khứ vẫn níu kéo anh hướng nhìn về những dòng sông muôn thuở, những ngọn núi trầm tư tự ngàn xưa, chứ không nhảy tưng tưng trong những niềm vui nông nổi như lối sống của lớp trẻ thời đại mới. Mỗi câu thơ bài thơ của Lê Thiếu Nhơn là một cái ngoái nhìn về quá khứ với bao nhiêu run rẩy, thăm dò và nuối tiếc của một tâm hồn nhạy cảm bị tổn thương trước cuộc sống ồn ào kệch  cỡm của đô thị thời đổi mới hôm nay.
Thơ Lê Thiếu Nhơn là những mờ chồng giữa bao ảnh hình trong veo thiêng liêng bất tử của quá khứ trong những không gian giả trá và trần tục của đời sống hiện tại. Nhưng trong sự mờ chồng hỗn dung giằng xé đó, quá khứ bao giờ cũng quyễn rũ, âm vang:
Lời dặn dò hoa rụng ngày xưa
Đã thăm thẳm môi người đi khuất
Một cơn giông đề phòng cả buổi chiều
Tôi ngồi nhớ những mùa mưa hành khất

(Kỷ niệm chưa đem bán)
Chỉ một màu hoa cũng đứng ngồi không yên
Nhớ xôn xao áo người qua phố
Đi cho hết tiếng ca
Về cho đầy mâm cỗ
Ta se lạnh ngọn gió thời yêu nhau…
Chỉ một màu hoa cũng đứng ngồi không yên
Chỉ một màu hoa cũng thăm thẳm niềm riêng

(Ngổn ngang một màu hoa)
Hoa nở đầu cảnh nỗi vắng mùi hương
(Giấc mơ trời sáng)

Cái màu hoa “quá cảnh trần gian” của ngày xưa  ấy lúc nào cũng ám ảnh đè nặng lên thơ Nhơn, thổi vào trong tâm hồn anh cái khát khao tìm lại thiên đường đã mất. Cỏ cây hoa lá hôm nay vẫn sinh sôi nảy nở, nhưng không còn hồn vía cũ, bông hoa chỉ còn là cái xác vì mùi hương đã vĩnh viễn ướp vùi trong những kỷ niệm xưa. Hiện tại chỉ là cái cớ để thức dậy những hình ảnh cũ, chỉ là chiếc gương soi tỏ bóng người xưa, kích thích trong thi nhân cái hứng khởi khai quật những nấm mồ ký ức. Trong khung cảnh đó, cái câu thơ “Nhân tình áo giấy vẫn ngồi đâu đây” gợi lên một cái nhìn tìm kiếm của nhà thơ hướng tới những hình nhân quá khứ.  Và trong cái tâm thế tìm kiếm ấy, những vẻ đẹp quyến rũ của người xưa vẫn ký sinh rời rạc vào thân xác và dáng hình hiện tại để hiện về, để ám ảnh, để tái sinh. Nhà thơ thấy đường cong của người thiếu nữ năm xưa vẫn sống trong dáng hình những thiếu nữ hôm nay:
Người con gái trẻ dại tình duyên trước
Chiều nay cười mơ ước cũ bình yên
Những đường cong còn nguyên trong bóng áo
Treo phập phồng những khao khát đàn ông…

(Ảo giác không nguôi)

Ngày xưa Vua Tự Đức muốn đập vỡ gương ra để tìm hình bóng cũ, xếp tàn y lại để giành hương của người vợ yêu đã lìa đời. Nay Lê Thiếu Nhơn cũng đập vỡ  những mảnh đời hiện tại ra để tìm kiếm người xưa, nhưng không tìm thấy những ảnh hình cụ thể, những mùi hương cụ thể, mà chỉ tìm thấy những đường nét thi ca, những đường cong thân thể gợi tình của thời dĩ vãng. Nhà thơ không như kẻ ngắm kỷ niệm và cổ vật trong bảo tàng ký ức, mà giống như người khảo cổ, đào bới mãi vào trong lòng thời gian, không gian và tâm tưởng để tìm kiếm dấu vết của ngày xưa, người xưa, dù chỉ là một mảnh gió, một mảnh trăng, một đường cong thân thể, một ngọn cỏ vu vơ…Nhà thơ chăm chút nâng niu từng mảnh vụn quá khứ ấy, xếp đặt chúng vào trong trí nhớ thi ca những gì của trời đất và tình người đã chia cho anh. Không trách móc, không níu gọi người tình quay trở lại, Lê Thiếu Nhơn không gây sự với tương lai dù biết tương lai đó đã thuộc về kẻ khác. Nhưng ta thấy rõ Lê Thiếu Nhơn  đăm đăm nhìn vào quá khứ bằng cái nhìn canh giữ của một chiến binh văn hóa kiên cường, không cho những kỷ niệm thiêng liêng biến thành hàng hóa. Nhà thơ đau trước cảnh người đời rao bán những kỷ niệm thiêng liêng:
Từng kỷ niệm mang ra từng buổi chợ
Khuyến mãi gì để bảo hành niềm tin?

(Kỷ niệm chưa đem bán)
Chỉ với mấy câu thơ bâng quơ vậy thôi mà ta thấy hiện lên cái ý nguyện của một thi nhân muốn đem thi ca chống lại cái ẩn dụ của chủ nghĩa tư bản vốn coi  tất cả mọi thứ từ đất đai, đến thánh thần và những giấc mơ là hàng hóa có thể mua bán trao tay được. Trong nỗi niềm hoài cổ của nhà thơ có nỗi đau của con người thời đại đồng tiền lên ngôi trộn với cái ý chí kiêu hùng của kẻ sỹ muốn giải cứu cả thế giới mộng mơ khỏi cạm bẫy tân kỳ của những con buôn.

PHẢI NGHĨ VỀ NGÀY XƯA ĐỂ SỐNG

Cái nhìn đăm đăm vào cõi thời gian đã vụt mất trong thơ Lê Thiếu Nhơn không phải là cái nhìn của kẻ ngu trung canh giữ hồn xưa, mà là cái nhìn hoài cổ của con người hành động. Nó hé lộ một chiều kích văn hóa lớn - văn hóa ký ức đang bị mất dần đất sống trong thời đại hôm nay để nhường chỗ cho văn hóa lựa chọn  hướng tới những gì chưa có đang có và sắp có ló dạng trong những mô hình, những tín hiệu của tương lai. “Phải nghĩ về ngày xưa để sống”- Đó là một tuyên ngôn văn hóa biểu lộ một cách rõ ràng và  tự tin sự lựa chon của nhà thơ.

Bảo vệ quá khứ không chỉ là canh giữ bảo tàng, mà phải bảo vệ tận gốc rễ văn hóa của nó là khả năng sống sót của ký ức trong thời đại hôm nay. Một câu hỏi lớn ám ảnh thi nhân: “Một ngày áo ướt ai hay?” Một làn sương mát, một thoáng rùng mình cũng cần được sẻ chia, được lưu giữ trong kỷ niệm của tha nhân. Đó là tâm thế của người đang yêu, cũng là tâm thế của người nhân hậu biết nâng niu từng mảnh vụn của cuộc đời. Ta thấy nhà thơ kiểm kê từng ngày sống, từng bước chân đi, từng chiếc ghế ngồi…để xem nó có còn có khả năng lưu dấu ấn trong trí nhớ người đời như thuở xưa không, hay chúng sẽ trôi qua  trước những cặp mắt dửng dưng. Vì anh hiểu rằng sự thất bại của một ngày sống được đo bằng sự thờ ơ của đồng loại, sự thờ ơ khiến cho những giấc mơ của nhà thơ trở nên bơ vơ:
Một ngày tôi đi qua
Như tiếng hát Digan lầm lỡ
Như bông hoa vẫn thênh thang đó
Giữa muôn ngàn thờ ơ
Bơ vơ một giấc mơ
Biết lấy gì chống đỡ…

( Một ngày vội vã)

Cái khao khát lưu giữ dấu vết trong kỷ niệm khiến nhà thơ ngoái tìm dấu vết của từng hành vi, từng khoảnh khắc, từng ngày sống:
Rời khỏi một chỗ ngồi
Bóng đen còn ở lại
Bất giác cười chơi vơi
(Một ngày vội vã)


Một cái ngoái nhìn và một nụ cười thật bí hiểm, giống như một thứ thám tử triết học, thám tử thi ca luôn ngoái nhìn phía sau để khám phá những điều bí ẩn của tâm hồn và thời cuộc. Cái bóng sau lưng dường như là một ám ảnh thẳm sâu trong tâm thức nhà thơ:
Mỗi bàn chân bước qua
Còn thương bóng mát ở lại bên đường

(Ngõ về nhạt nắng)

Nhà thơ ngoái nhìn lại bóng đen trên chiếc ghế vừa ngồi, ngoái nhìn lại bóng cây sau mỗi bước chân đi, giống như một người luôn ngoái lại phía sau để canh giữ bóng. Nhưng thương cái bóng cây là một tình thương rất lạ. Nó có vẻ giống như tình thương của nhà Phật, thương từ con chim cái kiến bằng tình thương của những kẻ đồng thân phận vì nhà Phật tin rằng những sinh vật kia là những mắt xích của Duyên, Nghiệp nối liền với số kiếp của ta trong vòng quay vĩnh cửu của luân hồi. Nhưng cái bóng mát kia đâu phải là kiếp sau hay kiếp trước của ta mà ta có thể thương? Tình thương ấy là một chiều kích mới của cảm xúc thi ca khởi phát từ sự hòa điệu cộng sinh của tâm hồn thi nhân vói muôn vật muôn loài, muôn hình tướng,  từ vũ trụ mênh mang vô tận đến những gì mong manh hư ảo nhất. Bóng mát ấy chính là hiện thân của đời ta trong một khoảnh khắc của quá khứ dịu lành, là dấu vết của ta trong chuỗi mắt xích liên hoàn tạo nên tâm hồn và số phận, ta phải biết nâng niu…

Không  chỉ ngoái nhìn bóng cây trên đường, bóng mình trên ghế, nhà thơ còn luôn ngoái nhìn những bóng người đã khuất, bóng những tiền nhân thấp thoáng sau sử sách, vì bóng người xưa có ẩn giấu một phép thiêng của văn hóa có thể tiếp thêm năng lượng sống cho anh trong cảnh ngộ bị đô thị ma mỵ bao vây. Giữa đô thị với những phố thị phi và phố văn chương, nhà thơ “chỉ ngại  gặp kẻ tầm thường đắc chí – Ánh mắt ấy kiêu hãnh quá trơi ơi”. Tâm hồn thơ Lê Thiếu Nhơn nhạy cảm đến lạ kỳ, một ánh mắt của kẻ đắc chí  hôm nay có thể làm anh tổn thương, ngần ngại, nhưng một ánh mắt của người ngư dân vô danh đã khuất vẫn có phép lạ soi sáng cho anh. Nhà thơ không ngần ngại bật mí cho ta biết anh đã lấy ánh sáng và sinh lực từ một bóng ma, đó là người ngư dân vô danh mà  “đôi mắt đã khép lại nhiều đêm - Vẫn rọi sáng tôi ngọn đèn kỳ lạ ((Phía tối ngọn đèn). Quá khứ là nguồn sống, nguồn cảm hứng, nguồn thơ nên ta thấy cả tập thơ Trong bóng người xưa luôn phập phồng cái cảm giác lo âu sợ mất đi quá khứ. Nhà thơ luôn ngoái đầu nhìn về quá khứ để níu giữ, để canh chừng, để khao khát phục sinh những ảnh hình, những buồn vui say đắm và mơ mộng thở xưa:
Nghe dòng sông càng trôi càng sợ hãi
Những bãi bờ hẹp hòi cỏ dại cứ đong đưa
Tôi đứng ngóng cánh buồm vắng mấy mùa thu…
Nghe dòng sông càng trôi càng cô độc…
Tôi cúi đầu bước ngược chiêm bao…

             (Có lẽ dòng sông trôi)

    Trong thời đại ngày nay, người ta đang chuyển dần từ văn hóa ký ức sang văn hóa lựa chọn hướng về tương lai. Thông điệp của văn hóa hướng về tương lai là “Khi yêu đừng quay đầu lại” như tiêu đề của một bộ phim sắp ra đời, vì ngoái nhìn về quá khứ là sẽ gặp những bóng ma kinh dị. Nhưng Nhơn lại luôn  quay đầu nhìn về  quá khứ để tìm kiếm những bóng ma:
Ngỡ đi ngược cơn gió
Có thể gặp mùa thu

            (Ngụ ngôn bằng ngũ ngôn)
Ngổn ngang như màu hoa tháng Chạp
Xa vắng giật lùi câu hát ngẩn ngơ
Sống một ngày nặng trĩu giấc mơ
Người yêu trăng đứng bên kia ký ức

(Bóng nhỏ qua đêm)

Mỗi ngày sống của thi nhân không phải là một ngày tiến tới đích tương lai, mà là một ngày bước xa dần những chiêm bao cũ. Nói theo cách ví von của Nieztch nhà thơ Lê Thiếu Nhơn giống như kẻ bện thừng  luôn bước lùi đi về tương lai. Và cái mới, cái hay của thơ Lê Thiếu Nhơn không phải là tâm trạng hoài cổ tràn ngập trong thơ phương Đông xưa, mà ở chỗ cái hoài cổ đó vừa mang trong nó cái tâm thức thiền sư  vừa pha trộn hơi thở của thế thái nhân tình thời hiện tại, giống như pha nước vào trong lửa mà lửa không tàn lụi, pha thực vào cõi ảo  làm cho những ký ức mơ  hồ hư ảo càng trở nên quyến rũ, pha quên vào trong nhớ lại càng nhớ khôn nguôi.

NHỮNG MÀU HOA QUÁ CẢNH TRẦN GIAN

Phật đã dạy thế gian là hư ảo vô thường, thế giới ta đang sống đây là một cây cầu chớ có dại dột xây nhà trên đó. Cái cảm thức về một  thế gian mong manh tạm bợ theo tinh thần Phật giáo xuyên thấm từng câu thơ của Lê Thiếu Nhơn, khiến cho  cả những câu thơ viết về thế thái nhân tình vấn vương tục lụy, lưu luyến cõi trần cũng chứa dựng cái tâm cảm vô thường của nhà Phật ở chiều sâu.

Không phải ngẫu nhiên những câu thơ được Lê Thiếu Nhơn lấy làm điểm nhấn của tập thơ "Trong bóng người xưa" đều giống như những nhịp cầu chênh vênh một đầu kê lên những day dứt ân tình trần thế, một đầu kê lên triết lý vô thường. Cụm từ  “quá cảnh trần gian” thật hay vì nó là đứa con lai ghép giữa đời sống hiện đại và tâm thức vô thường để cùng một lúc nói lên cái phù du của đời sống hiện tại và  cái mong manh của cõi thế theo tinh thần Phật giáo. Câu “Nhân tình áo giấy vẫn ngồi đâu đây” cũng vậy, mới đọc ta thấy toát lên một thái độ hoài nghi thế thái nhân tình, nhưng đọc kỹ ta lại thấy trong đó cái triết lý về cõi thế giả hình, tạm bợ, mong manh như một thứ hàng mã tượng trưng, rồi lại thấy như là nhà thơ đang nhìn thấy bóng người xưa ẩn hiện, như những bóng ma mang áo giấy đợi mình. Thế gian chỉ là cõi mộng, là chiếc bóng hư ảo, phù du. Triết lý ấy của nhà Phật bàng bạc trong suốt tập thơ Trong bóng người xưa với la liệt những mùa mưa, những bông hoa rụng, những cánh buồm, những giấc chiêm bao, những dòng sông không thể tắm hai lần, những cơn gió lang bạt cuồng phóng cuốn đi những mùa yêu mùa thơ, những vẻ đẹp huy hoàng thi nhân tận thấy trong quá khứ đã vụt mất từ bao giờ không rõ. Có điều, Lê Thiếu Nhơn không phải là một tín đồ Phật giáo thở dài buông trôi theo dòng chảy miên man của cõi vô thường hư ảo mong manh ấy, mà vẫn mang những day dứt tục lụy để lội ngược dòng thời gian mong tìm lại những “màu hoa quá cảnh trần gian” trong  tình yêu, tình đời, tình bạn, tình thơ.

Đi giật lùi để níu lại hoa xưa, níu lại đóa hoa vô thường quá cảnh trần gian với khát vọng dựng lại một thiên đường đã mất, kiên nhẫn tận tình chống trả lại mưu toan thương mại hóa những đóa hoa kỷ niệm ngày xưa, nhưng  cũng đến một ngày Lê Thiếu Nhơn không chìm đắm trong nỗi niềm hoài cổ một chiều, mà đã giác ngộ ra một chiều kích khác của tình yêu và của thế gian khiến cho  “Hờn ghen hay trách giận không làm anh bận tâm nữa”. Trong khoảng khắc đốn ngộ, nhà thơ đã buông xả, thăng hoa để giải phóng cho người tình xưa, kỷ niêm xưa và giải phóng cho mình khỏi món nợ phục sinh đè nặng từng ngày sống
Học sự rực rỡ trong quên lãng của hoa
Dại bên tường cao cổng kín
Ngày em  cười lặng lẽ, anh đã nhớ ơn
Cuộc sống này

(Phố tri ân)

Chỉ một nụ cười lặng lẽ của người yêu xưa thôi đã khiến cho nhà thơ bừng ngộ, vượt lên bằng một khai phóng tuyệt vời của thiền sư để “học sự rực rỡ trong quên lãng của hoa”. Câu thơ tuyệt vời này gợi nhớ điển tích Phật Thích ca nâng bông hoa trên tay để khai mở tâm thức cho các đệ tử, Ngài Diếp Ca đã khai ngộ mỉm cười và trở thành tổ sư của Thiền tông. Nhưng ở đây, bông hoa dại trên tường và nụ cười của người yêu xưa dường như đã chập vào nhau trong một khoảnh khắc hạnh ngộ, phản chiếu cộng sinh, làm cho chàng thi sỹ bừng ngộ nhìn ra cái bản lai  diện mục của tình yêu. Cái bông hoa dại rực rỡ kia có của ai đâu, có nhớ ai đâu, nhưng người đời vẫn yêu vẫn nâng niu nó. Cái khoảnh khắc thăng hoa khai ngộ ấy đã chiếu rọi vào tâm thức nhà thơ ánh linh quang rực rỡ của một vũ trụ vô tâm nhưng huyền diệu, khiến anh ta hốt nhiên đạt tới sự buông xả, trở nên đôn hậu, từ bi, biết nâng niu những màu hoa phù du “quá cảnh trần gian”. Nhà thơ không khóc than đưa tang quá khứ như xưa nữa, mà ngay trong phút giây người yêu cũ theo chồng, anh vẫn mỉm cười như Trang Tử xưa ngồi hát xênh xang khi người vợ lìa đời:
Bỏ qua chuyện cũ mà sống
Mừng em áo mới ra đường
Anh ngồi hát cuộc tiễn đưa”

(Gặp lại sông Hương)

Không phải vì anh đã cạn tình, mệt mỏi, mà vì anh đã biết “ học sự rực rỡ trong quên lãng của hoa”. Puskin xưa “Cầu em được người tình như tôi đã yêu em” chỉ thể hiện một thái độ cao thượng của thi nhân với người yêu cũ, thì ở đây, Lê Thiếu Nhơn đã thể hiện sự giác ngộ của  hiền nhân. D.Suzuky, nhà Thiền học đã từng viết trong cuốn Huyền học đạo Phật và đạo Thiên Chúa đại ý một bông hoa dại ngoài đồng giản dị khiêm nhường và nhỏ bé làm sao, nhưng nếu ta chăm chú nhìn kỹ nó thì đến một khoảnh khắc nào đó ta sẽ thấy nó lộng lấy hơn cả Vua Salomon lúc Người còn sống. Chính cải lộng lẫy của người yêu trong khoảnh khắc mỉm cười với thi nhân ấy đã  giúp anh hòa hòa điệu thăng hoa vào sự vô tình rực rỡ của thiên nhiên trời đất. Từ đây, anh có vẻ như đã đoạn tuyệt với M.Proust, chia tay với ước mơ tìm lại thiên đường  đã mất để cho “trái tim mình đập nhịp đàn ông”:
             “Hoa nở đầu cành nỗi vắng mùi hương”…
            “Bao mùi hương hấp tấp về đâu”…
            “Tôi yêu lại giấc mơ bình thường”…
            “Bao nỗi chia xa ngọn gió nhẹ hều”…


`Hoa chỉ là hoa, không còn ám ảnh mùi hương xưa nữa, ngọn gió cũng không còn trĩu nặng ký ức và giấc mơ cũng bình thường như ngàn vạn giấc mơ. Và khi đã tự do với quá khứ nhà thơ nhìn thẳng vào thế kỷ 21 bằng cái nhìn phán xét, dõi theo dòng đời đang “quá cảnh trần gian”:
Gõ lên bàn phím dáng sông lưỡng lự
Gõ lên bàn phím bóng núi trầm tư

Xót lại điều gì gửi cho mai sau
Ước mơ hoa tàn bạt ngàn cỏ dại
Hạnh phúc tối trời ai còn lầm lũi
Nhân tình áo giấy vẫn ngồi đâu đây

            (Phím gõ từng ngón tay)

Trong tâm cảm của người đã được khai ngộ, những dòng sông chào đón tương lai bằng thái độ lưỡng lự khoan dung ôm lưu luyến ôm trùm mọi hoa tàn cỏ dại, mọi thân phận bất hạnh lầm lũi in đậm màu quá khứ, khác hẳn những dòng sông lao phăm phăm ra biển với cái hăm hở tự tin cạn cợt và có phần bạc bẽo của buổi đầu hội nhập. Đó là cái lưỡng lự mà Edgar Morin đã thấy trong cách thế của con người hiện đại từng trải nghiệm một thế giới bấp bênh, một thế giới của những điều không xác thực như những hư ảnh phù du “quá cảnh trần gian”, ở đó con người cần có sự chọn lựa  vượt qua ứng xử đơn giản hóa của cái nhìn cạn cợt nhất nguyên.

ANH VẪN SAY MÊ NGỌN GIÓ LANG BẠT

Trong thơ Lê Thiếu Nhơn, những suy tưởng lớn về thời đại được thể hiện một cách hàm súc qua những ẩn dụ theo kiểu thơ Đường, gợi nhớ những tâm hồn “độc thiện kỳ thân” trong thơ ca cổ:            
Ngày chờ ríu ran từng đàn chím sẻ
Mở cửa trời đại bàng  không thấy  qua


Tâm hồn hoài cổ nhạy cảm cô trung với những giá trị văn hóa nhân bản bị chà xát hàng ngày bởi những tiếng chim sẻ văn hóa thời mở cửa đã hé lộ niềm khát khao những cánh chim đại bàng văn hóa  vút lên trên nền tẻ nhạt của những phố ngày thường, phố thị phi và phố văn chương. Nhưng thơ Nhơn dù thoạt đọc có vẻ không mới mẻ, vẫn không phải là sự  sắp đặt những linh kiện văn hóa của người xưa. Tập thơ Trong bóng người xưa có rất nhiều những câu thơ hay, tinh tế, mới lạ về cảm xúc và nhuần nhuyễn trong những tìm tòi hình ảnh và những kết hợp ngôn từ táo bạo. Như khi Lê Thiếu Nhơn ngắt đôi chữa hoa dại một cách tài tình:
Học sự rực rỡ trong quên lãng của hoa
Dại bên tường cao cổng kín


Ta không thấy ở đây cái hiệu ứng uốn vặn bẻ gãy ngôn ngữ của thơ tân hình thức, hay cái vẻ kim hoàn tinh xảo của loại thơ gọt giũa ngôn từ, mà vẫn cảm nhận được trong kỹ xảo biến tính từ dại thành động từ của nhà thơ những cảm xúc tự nhiên, nhuần nhị và mới lạ. Những câu thơ mà Nhơn lẩy ra in cuối một số trang sách là ví dụ diển hình cho những sáng tạo ngôn ngữ kỳ khu mà sâu sắc tự nhiên, bởi cốt lõi của những phép tu từ hàm súc đó không phải là thói chơi chữ  hình thức và thời thượng, mà chính là những nội dung cảm xúc và tư tưởng được bật ra một cách tài hoa trong cuộc hôn phối bất ngờ táo bạo của trí tưởng tượng thi ca.

Có thể nói hoa và gió là những hình tượng ám  ảnh trong thơ Lê Thiếu Nhơn. Nhưng nếu bông hoa trong thơ anh  mang nhiều tư cách của bông hoa tâm linh siêu thoát rực rỡ ánh sáng thiền tông, thì gió trong thơ anh lại rất bụi đời, nhập thế. Hình tượng bông hoa gắn liền với những chiêm nghiệm thẳm sâu của nhà thơ, còn ngọn gió lại luôn gắn liền với con tim phóng túng của  anh với bao nhiêu cung bậc khác nhau của những run rẩy yêu thương và khát khao trần thế. Ám ảnh gió trong thơ Lê Thiếu Nhơn còn phát lộ rõ thêm cái tâm thế bất định của một thi nhân nhạy cảm với lẽ vô thường, tạm bợ, mong manh theo quan điểm nhà Phật. “Gió dọc ngang thi sỹ”; “Anh vẫn say mê những ngọn gió lang bạt”…Gió đã trở thành sứ giả của tình yêu thuở xưa, giống như Thúy Kiều từng nghĩ:
Trông ra ngọn cỏ cành cây
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về!
Thúy Kiều từng mường tượng mai sau mình sẽ hóa thân thành ngọn gió, còn Lê Thiếu Nhơn thấy ngọn gió như sứ giả nối kết giữa tình xưa với cõi lòng nay, “gió gửi hồn gửi vía”, “gió bay vòng nỗi nhớ”; gió trở thành một địa chỉ của kỷ niệm “Ngõ lại bỏ không thềm gió”, “Hồn cố đô nổi gió”, gió cũng là một khởi điểm của thời gian “thành phố bước vào gió”. Gió là hiện thân của nỗi nhớ thường trực theo nhau thơ bất kể lúc nào, nơi đâu: “cầm ngọn gió đi xa”. “Gió bon chen thổi trắng những toa tàu”. Gió  là cân tiểu ly, là hàn thử biểu của tình yêu để đo đếm lòng người, cân đong ký ức trong từng khoảnh khắc: “Ta se lạnh ngọn gió thời yêu nhau”;  “Không dám hoài nghi ngọn gió vô tình”;  Bao nỗi chia xa ngọn gió nhẹ hều”;“Âm u gió chướng”; “Gió đã bốn phương tơi bời tan nát”; “Đã xôn xao gió trong lòng”...

Không phải chỉ tình yêu mới làm ta say mê những bông hoa, những ngọn gió, những ngày thu. Không có tình yêu con người vẫn sống với bao rạo rực phập phồng trước cỏ cây mây gió. Nhưng tình yêu đã giúp Lê Thiếu Nhơn biến cỏ cây mây gió thành những địa chỉ ghi dấu những khoảnh khắc riêng tư độc đáo của riêng mình trong trong cõi vô thường, để gọi hồn những thiên đường đã mất cho nó hiện về sống lại trong khoảnh khắc đầy hoa, đầy gió và đầy sáng tạo ngôn ngữ của thi ca./.  



| Thảo luận(15) |
123 Email
12/10/2009 09:56
1 -Võ Tấn Cường ở trang w nào cũng "vỗ ngực xưng tên", "ra bộ ta đây" chỉ ra chỗ dở, chỗ yếu của thiên hạ...Nhưng đọc những bài bình của "gã" trên Văn nghệ tw thì nhạt hoét, đọc commen gã bình và góp ý cho thơ Huỳnh Thúy Kiều cũng nhạt như nước ốc và còn nặng sách vở lắm! Khó ngửi lắm!
2 -"Tay này" làm thầy giáo chắc là "gò ép" học sinh vào "thế giới nghệ thuật riêng mình " lắm đây!
3 -Này Võ Tấn Cường! Có ngon "xơi thử" một tập thơ của Lê Thiếu Nhơn rồi "tiêu hóa" thành một bài phê bình rồi pots lên đây cho anh em mạng "nuốt thử" xem có vào không? Đừng đứng ngoài nói trổng, kẻo thiên hạ họ lại bảo đi chỗ khác chơi "chỉ giỏ nỏ mồm" đấy! Khổ!
lệ hằng Email
23/09/2009 12:11
CHào Nhơn! MÌnh đã đọc thơ Nhơn , rất thích thơ cậu và cả các bài viết của Nhơn ở báo HHT cách đây nhiều năm Rồi. Chúc bạn luôn khoẻ, HP và có nhiều bài thơ hay !
Đỗ Minh Tuấn
02/05/2009 19:00
Cám ơn các ánh Võ Tấn Cường và Trúc Phương đã đọc kỹ và  cho ý kiến về bài viết của tôi. Ý kiến các anh bộc lộ những quan điểm khác nhau về phê bình thơ nên tôi muốn trao đổi thêm một số ý về vấn đề này. Tôi nhất trí với anh Truc Phương là bài phê bình có thể như một ngón tay chỉ mặt trăng, nhưng trong trường hợp này thì ngón tay là tập thơ Trong bóng người xưa của nhà thơ Lê Thiếu Nhơn ( tức là con gà theo tư duy của anh Võ Tấn Cường)  và mặt trăng là những vấn đề của tâm thế thi nhân và của thời đại (tức là con trâu theo tư duy của anh Võ Tấn Cường). Tôi cố gắng chỉ ra mối liên hệ giữa những câu thơ bài thơ cụ thể và những tâm cảm lớn, những vấn đề lớn những câu thơ bài thơ đó gợi ra, cũng có nghĩa là tôi đang cố phân tích để thuyết phục người đọc rằng những câu thơ bài thơ ấy tuy nhỏ như ngón tay, nhưng đang chỉ đến cái mặt trăng cao vợi của những cảm xúc những vấn đề  có tầm thời đại. Tiếc rằng anh Võ Tấn Cường lại cho rằng việc nối kết những câu thơ bài thơ đó với nhữg vấn đề lớn lao kia là dùng dao mổ trâu để giết gà. Tôi nghĩ cách hình dung của anh Trúc Phương về ngón tay chỉ trăng có lẽ chính xác hơn về tương quan cái nhỏ/cái lớn trong bài viết của tôi.
Tôi cũng nhất trí với anh Võ Tấn Cường là nhà phê bình thơ cần năng lực cảm thụ, rung động với những hình tượng thơ cụ thể. Nhưng mỗi sự vật, mỗi con người, mỗi câu thơ có nhiều tầng, nhiều cạnh khía của hồn vía. Mỗi người có cách tiếp cận và rung cảm khác nhau với hình tượng thơ. Cùng nhìn vào gương mặt thiếu nữ, kẻ đa tình rung cảm với sắc đẹp, bậc cha mẹ thương cảm nét ngây thơ, bác sỹ cảm nhận được những biến động về sức khoẻ, nhà tâm lý học cảm nhận được trạng thái tinh thần, nhà tiên tri cảm nhận được một dấu hiêu bất hạnh qua khí sắc...Cùng một câu thơ Tội nghiệp những màu hoa quá cảnh trần gian chắc ai cũng  rung cảm với tình thương nhân hậu của nhà thơ, nhưng tôi rung cảm với tâm thế thiền trong câu thơ đó và tôi thấy tâm thế đó xuyên suốt nhiều câu thơ, có thể coi là cái mã, cái kênh cảm nhận thế giới của Lê Thiếu Nhơn. Nhiệm vụ của người phê bình thơ không chỉ là chia sẽ những rung cảm ở mọi tầng nấc (cảm tính, triết học hay tôn giáo) mà còn phải cảm nhận được cái rung động xuyên suốt, cái tâm cảm xuyên suốt các câu thơ, nói rộng ra tâm thế và cách nhìn thế giới của nhà thơ.  Như thế không thể coi là lấy dao mổ bò để giết gà được mà chỉ có thể coi là làm cái việc nối ngón tay nhỏ tới mặt trăng mà ngón tay đang chỉ tới như  cách nhìn của anh Trúc Phương .  Trong trường hợp này muốn phê cách đọc của tôi, anh Võ Tấn Cường phải chứng minh rằng trong thơ Lê Thiếu Nhơn không có những tâm thế đó, hệ thống hình tượng của Lê Thiếu Nhơn không mang cảm hứng Thiền như tôi phân tích - nghĩa là chẳng có cái mặt trăng lung linh mà Đỗ Minh Tuấn đã nhìn thấy theo hướng ngón tay kia!
Phan Đức Dũng
02/05/2009 14:26
Thơ này ko bán được đâu anh, thực sự đấy. 100 cuốn là chính xác thôi.
Trúc Phương
02/05/2009 12:07
Gửi anh Võ Tấn Cường!
Trước hết tôi cảm ơn anh đã có phản hồi nhanh chóng. Tuy nhiên, tôi không phải là nhà văn Trúc Phương ở NXB Văn Hóa Sài Gòn. Tôi chỉ là một giảng viên bình thường ở Trường Cao đẳng Sư phạm TPHCM. Tôi cũng là người Tiền Giang, nhưng không ngờ quê mình có một nhân vật khí tiết ngút trời như anh. Chưa xác định tôi là ai, mà anh đã hạ cho nhà văn Trúc Phương mấy câu như búa bổ thì chứng tỏ bầu máu nóng của anh rất tràn trề. Thôi thì, tôi đành thay mặt anh cáo lỗi với nhà văn Trúc Phương vậy!
Tôi chỉ muốn nói với anh Võ Tấn Cường thế này. Mấy năm qua hình như anh cũng ríu rít viết mấy bài phê bình gì đó, chắc anh cũng biết chuyện "ngón tay chỉ trăng"? Nếu thấy ai đó lấy ngón tay che mất mặt trăng, anh hãy dùng lời nhắc khẽ, chứ anh lại sử dụng ngón tay mình để "tố cáo kẻ che mặt trăng" thì công chúng như tôi chỉ thấy...hai ngón tay mà thôi. Mặt trăng càng bị che khuất hơn, anh ạ!
Kính chúc anh sức khỏe, để tiếp tục có những bài thơ rạng danh quê hương Tiền Giang nói riêng, và mảnh đất đồng bằng Sông Cửu Long nói chung!
Trúc Phương ( họ Võ, nguyên quán Mỹ Tho, hiện cư ngụ tại đường Nguyễn Kiệm, Phú Nhuận, TPHCM)
Võ Tấn Cường Email Homepage
02/05/2009 10:11
Có phải Trúc Phương từng viết văn xuôi, ở Vĩnh Long và bây giờ làm giám đốc NXB ở TPHCM? Đúng là tôi rồi đó. Tôi biết nhiều giai thọai về anh lắm...Sự thách đố của anh thật... tức cười. Tôi chỉ viết cảm nhận và bộc lộ sự phê bình của tôi về cách phê bình thơ của Đỗ Minh Tuấn thôi. Chẳng có gì là cao giọng cả. Chẳng lẽ muốn phê bình một bài viết hoặc một tác phẩm của tác giả nào thì người viết cũng phải viết một tác phẩm hay như vậy?.....
Xin thưa với anh. Tôi là người hâm mộ Đỗ Minh Tuấn, cả thơ và lý luận phê bình. Tôi đã  đọc đi đọc lại: "Ngày văn học lên ngôi" của ĐMT. ĐMT giỏi lý luận chung chung và viết rất hay các bài tiểu luận thơ nhưng cảm thụ thơ của ông ấy thì đúng là...hơi yếu. Bài viết về thơ LTN đúng là dùng dao mổ trâu...để mổ gà....Tôi nghĩ mỗi người có cách cảm thụ khác nhau về thơ nhưng khi phân thích phê bình thì nên bám sát giá trị nghệ thuật, tư tưởng nội tại của từng câu thơ, bài thơ....Trúc Phương ạ. Anh phán xét người khác nhưng cũng cần xem lại mình. Anh hiều gì về thơ mà cho rằng bài bình thơ của Đỗ Minh Tuấn là hay? Hay ở chỗ nào? Anh thử phân tích xem?
Trúc Phương
01/05/2009 21:55
Có phải Võ Tấn Cường có làm thơ ở Tiền Giang không nhỉ? Hơi cao giọng đấy!
Võ Tấn Cường thử viết bài phê bình thơ hay hơn Đỗ Minh Tuấn xem có được không?
Trúc Phương - Phú Nhuận, TPHCM
Nguyễn Thị Anh Đào
01/05/2009 21:53
Cảm ơn nhà thơ Đỗ Minh Tuấn đã hồi âm. Kính chúc anh sức khỏe. Mong được đọc nhiều bài phê bình nữa của anh.
Nguyễn Thị Anh Đào - Khoa Văn, ĐH Vinh
Võ Tấn Cường Email Homepage
01/05/2009 07:03
Bài viết của nhà thơ Đỗ Minh Tuấn "phô diễn" kiến thức nhiều hơn là phê bình, khám phá thơ của Lê Thiếu Nhơn. Những kiến thức như kiều này nên để dành viết tiểu luận về thơ thì tốt hơn. Trực giác và khả năng cảm thụ thơ của Đỗ Minh Tuấn hơi yếu nên anh chỉ "tán" chứ ít cảm thụ được cái hồn cốt của câu thơ. Cách phê bình này khiến người đọc lạc vào mê cung của chữ nghĩa mà chẳng cảm nhận được cái hay cái đẹp của tác phẩm thơ mà Đỗ Minh Tuấn viết phê bình.
Đỗ Minh Tuấn
30/04/2009 11:58
Thân gửi bạn Anh Đào và các bạn,

Cám ơn các bạn đã đọc và bình luận.
Tôi cũng rất thích bài Dưới đèn đối thoại tiền nhân nhưng vì bài dài quá, vả lại cảm hứng đối thoại với tiền nhân đã được nhắc đến như đường dây xuyên suốt nên tôi không trích cụ thể. Viết dài viết kỹ một phần vì thấy tự quảng cáo tội quá, oan cho thơ quá, phần nữa vì tập thơ dễ bị cho là cũ nên phải phân tích nhiều. Tuy nhiên, không phải tập thơ  nào cũng viết dài được,thơ phải có vấn đề mới có thể viết dài.
Phân trang 1/2 Trang đầu 1 2 Trang sau Trang cuối
Viết Thảo luận
Hình vui
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
emotemotemotemotemot
Mở HTML
Mở UBB
Mở hình vui
Ẩn giấu
Hãy nhớ
Tên gọi   Mật khẩu   Khách không cần mật khẩu
Địa chỉ web   Email   [Đăng ký]
               

 

Những bài mới nhất