KÝ ỨC HOÀNG HỮU nhiều cái TÀI lắm cái TÌNH
VĂN TUỆ NHI
Mùa hè 1968, anh Tuấn Thuỵ và tôi đến Phòng Văn nghệ Ty Văn hoá Vĩnh Phú có chút việc. Qua bến Then, qua đoạn đường lầy lội nữa, mới tới được nơi Ty sơ tán, ở một làng nào đó trên đất Lập Thạch. Phòng Văn nghệ đi chống lụt hết, chỉ còn anh Nguyễn Hữu Dũng ở nhà trực cơ quan. Hồi ấy tỉnh mới hợp nhất, anh ở Vĩnh Yên lên, chúng tôi còn lạ nhau. Người lạ, ở đất lạ gặp nhau không khỏi có những phút dè dặt. Tuấn Thuỵ ngồi trò chuyện, hỏi liệu bao giờ thì Văn Bằng về, còn tôi tò mò bước lại gần bức tranh còn trên giá vẽ: bức tĩnh vật Hoa bèo. Năm ấy lợn chưa ăn bèo lục bình, còn tôi thì chưa thấy ai quý hoa của nó. Mặc kệ, trong tranh bông hoa được trân trọng đặt trong cốc pha lê trong sáng, hoà sắc tím của nó đã làm rỡ ràng thêm cái cốc và cả hai cùng lung linh buồn. Bức tranh chưa thật xong, chưa ký tên tác giả nhưng tôi ngờ ngợ, tôi nhìn lại gương mặt sáng, thông minh hào hoa và hơi buồn của Nguyễn Hữu Dũng. Thì ra đúng là anh đã vẽ bức tranh ấy. Tôi nói vài câu cảm tưởng, anh cho là đã hiểu được tác giả, làm tôi-một anh giáo làm truỵen ngắn trên phố huyện miền rừng sướng rơn, sấn ngay vào trò chuyện mỹ thuật. Câu chuyện thân tình ngay. Rồi từ tranh, chúng tôi sang thơ. Hồi ấy những tay làm văn tỉnh lẻ chúng tôi có lệ gặp nhau là hỏi xem đã đọc cuốn ấy, bài nọ chưa; nếu chưa thì kể cho nhau nghe rồi xuýt xoa phẩm bình. Tôi cho mình là tay ghê gớm về Nguyễn Bính, nào ngờ chính anh đã đọc và nói cho tôi nghe một câu cực kỳ Nguyễn Bính mà tôi chưa được biết bao giờ:
Nắng hưng hửng nắng, chiều lưng lửng chiều.
Thì ra, anh cũng còn làm thơ. Lại làm thơ hay. Tôi cứ từ sửng sốt này đến cảm phục khác trước cái thế giới tâm hồn mới đó còn xa lạ. Phục nhất là anh đã quen ông Thuý Toàn dịch thơ. Anh còn chép tặng tôi bài Vô đề của Lermontov do Thuý Toàn dịch chưa hề in ở ta:
Không, tôi đâu nữa yêu em
Mộng xưa đau đớn cuồng điên qua rồi
Nhưng nơi sâu kín lòng tôi
Hình em vẫn sống tuy vời vợi xa
Dẫu say mộng mới thiết tha
Nhưng hình ảnh ấy dẫu mà đã quên
Tượng thờ dù đổ vẫn thiêng
Miếu thờ bỏ vắng vẫn nguyên miếu thờ
Anh đưa tôi cuốn Thơ 2 năm Ninh Bình quê anh chống Mỹ. Cuốn thơ in khổ rộng, bìa của Mạc Kính Dương vẽ góc đình vua Đinh, ở trong cũng những mấy bài của Mạc Kính Dương. Hữu Dũng có hai bài. Mặt trời trên phố, phố huyện của anh, đã từng chứng kiến cuộc cách mạng mùa thu, đã rạo rực hồn anh nhiều kỷ niệm, nay giặc Mỹ ném bom, nhà đổ người chết; mặt trời đỏ mọc lên, bài thơ chấm hết. Dưới trời sao đưa nhau tôi nhớ được câu kết:
Mai anh về sao nhớ lối sao đưa
Đời thơ của anh ngắn, đời sống của anh dừng đột ngột, nhưng ý thơ, tình anh cho đến chỗ chấm hết thì mới cảm thấy rõ ràng anh còn sống rất lâu trong lòng ta. Nhà thơ Hoàng Hữu là người đưa đường khiêm tốn, dẫn tôi đến bờ biển rồi mặc cho tôi cùng với sóng vỗ, với rộng sâu mà mầu xanh của nó. Tôi có chê cái tên tác giả, nó cứ gợi đến câu “Hữu Dũng vô mưu” thế nào. Anh bảo để xem.
Từ lần gặp ấy, tới tháng 11 năm 1981, là già 13 năm. Chúng tôi gặp nhau vài tháng một lần và cũng từng ấy lần tôi xem bìa sách, xem tranh và đọc thơ anh. Sau mấy tác phẩm đầu tay anh ký tên Hữu Dũng, anh chính thức ký tên Hoàng Hữu. Anh giảng cho tôi hiểu về bìa sách. Làm bìa sách là quá trình dãi bầy tâm hồn của hoạ sỹ với cuốn sách, với tác giả nó và với sự trân trọng độc giả, yêu quý cuộc đời. Phong cách bìa Hoàng Hữu nhất quán với thơ Hoàng Hữu và cả hai đều nhất quán với cốt cách Nguyễn Hữu Dũng: sâu sắc, nhân hậu, tinh tế…
Bởi vì…
Trong đời, Hoàng Hữu rất ít khi chê trách bè bạn, nhưng có lần anh phàn nàn rằng có một tác giả nọ, ở nơi gian khổ gay go gửi về toà soạn hai bài thơ hò hét quyết tâm, kèm theo một bức thư kêu khổ và bày tỏ nỗi chán chường với Hoàng Hữu. Không những không cho in, anh còn có thái độ với tác giả kia. Anh ghét cay ghét đắng cái giả tạo trong đời sống, trong trang sách. Có lẽ vì bệnh tật, Hoàng Hữu ý thức sớm rằng anh được sống ít, nên anh càng kính trọng cuộc sống.
Chân thực hết lòng nhưng không suồng sã xô bồ, đó là biểu hiện của bậc thức giả; đó là điều cần có ở mỗi con người. Hoàng Hữu có. Những ai đã giáo dưỡng anh? Không kể xiết, nhưng nó nhuần nhuyễn đến mức như từ máu thịt anh mà nở ra vậy.
*
*
Nhà thơ Hoàng Hữu
Gặp Hoàng Hữu lần nào tôi cũng cảm thấy cuộc đời có ý nghĩa hơn, đáng yêu hơn, tin ở con người hơn; dầu anh không phải là xuất chúng. Hồi phòng Văn nghệ về Minh Nông, tôi đến thăm anh. Đang nói chuyện, bỗng anh rối rít giục tôi:
- Mình đưa ông đi thăm một khám phá.
Anh đưa vòng vèo mãi quanh xóm Thông Dậu, đến một cây cọ già, hơi còng, cõng đầy rêu và tầm gửi. Anh nói:
- Ông có thấy thời gian nó đi qua thân cây cọ và để dấu chân trên đó không?
Lần khác, đang đạp xe trên Quốc lộ 2, đoạn Vĩnh Lạc, bỗng anh níu ghi đông xe làm tôi suýt ngã:
- Ông hãy ngắm cánh đồng trước mặt, con đường đỏ cong cong, lúa xanh đến thổn thức, đôi ba cái nón trắng và Tam Đảo mờ xanh dưới bóng chiều.
Đôi mắt to sáng của anh ngời lên và cái ngực mỏng phập phồng. Trong các cuốn bản thảo của Hoàng Hữu có rất nhiều những ký hoạ, những câu thơ:
“Cỏ có xanh, đất có nâu và hoa nữa
Năm ấy hoa bìm có thắm thế này không?”
“Vai đẫm sương vẫn tin em tới
Chạm tay mình mới thực biết không em”
Dường như ở đâu, đến đâu anh cũng cảm, nghĩ; cùng nhìn ra được cái đáng yêu và ghi lại. Lòng anh như sợi tơ đàn bầu mà thiên nhiên cuộc sống là bàn tay kỳ diệu luôn làm nó rung lên. Tiếc rằng anh thường đau yếu, cảm giác như anh không đủ sức để chứa những tiếng ngân của tơ lòng ấy kéo dài thành bài thơ trọn vẹn. Tôi lại muốn nói rằng đó là những tia chớp gọi mưa cho những cánh đồng. Những câu thơ loé lên trong mảnh trời hồn anh gợi những liên tưởng khác của tôi…và nhắc tôi hãy cần mẫn làm việc. Tiếc rằng chúng ta ít in những câu thơ hai câu, nên nhiều tứ thơ kỳ lạ của Hoàng Hữu ít được biết tới.
Đọc thơ Hoàng Hữu, lại biết anh nên tôi dễ nhận ra nỗi day dứt không yên của anh trước bề bộn cuộc đời; anh cảm xúc nhiều, chỉ mới làm được có thế; tâm trạng ấy những ai yêu thích lao động đều có, dù họ đã làm được nhiều việc trong ngày
Vẫn thao thức bình minh trong mắt ngủ
Hoa gạo bồi hồi cháy mãi một bên sông
Những tháng cuối cùng, nằm ở Trung tâm cấp cứu Bệnh viện Việt Trì, anh vẫn làm thơ và đó là những bài thơ tha thiết yêu đời và hàm ơn cuộc sống; tài thơ anh đang độ chín nên thấm thía tình người. Những gì anh mơ ước, đang còn ở trước mặt. Anh nằm xuống, tôi bỗng thấy mình phải tốt hơn, làm việc nhiều hơn. Thỉnh thoảng anh đùa: “Giá mình được sức khoẻ như ông”- lời ấy đến nay thành điều trách cứ, Hữu ơi!
Anh Nguyễn Hữu Dũng mới lập gia đình năm 1974. Năm cuối cùng vợ chồng anh lại phải sống xa nhau, chị Minh đi học ở Bần Yên Nhân. Mới nhìn thì hạnh phúc của anh so với người trung bình, như vậy là khuyết. Nhưng thực ra mặt trăng hạnh phúc của anh tròn đầy, anh được bè bạn và cuộc đời ưu ái, mến phục, anh đã vì mọi người và mọi người đã vì anh, ngay cả khi anh không còn nữa.
*
* *
Ba mươi bẩy năm!
Ngày lên 7, đọc sách thấy ông Tú Xương sống 37 năm thì tôi cũng nghĩ rằng ông sống ít, nhưng chưa cảm thấy thấm đau cái ngắn ngủi đời người như khi tôi 35 tuổi khóc bạn sống bằng tuổi ông Tú Xương. Hữu ơi, khi sống, tuy bản tính khiêm tốn anh không nói ra nhưng tôi vẫn cảm thấy. Còn bây giờ tôi nhận rõ một điều, từ đời sống của anh đúc thành bia ký:
“Người ta còn có một cách kéo dài tuổi thọ bằng cách làm nhiều việc, tất nhiên là việc thiện, hẳn rồi.”
Tôi nghĩ đến truyện ngắn đầu tay và duy nhất của anh: Dưới chân núi cũ. Đời anh bao giờ cũng hướng tới cái cao đẹp. Bây giờ, chắc anh vẫn ngưỡng vọng tới đó? Tôi bỗng nhớ đến câu thơ của nhà thơ Quang Dũng nhớ bạn:
Một chiếc linh hồn nhỏ
Đi về chân núi xanh
Lần đầu gặp nhau, anh đã đọc cho tôi nghe nhiều câu thơ hay mà tôi chưa biết. Đêm nay, tôi đọc to trong lòng để khóc anh, anh có nghe chăng, hỡi Hoàng Hữu của tôi?
HOÀNG NHUẬN CẦM đọc thơ VŨ QUẦN PHƯƠNG
Chớp hiện CHÓE

