CHÍN
Hàng ngày đi phát cây, thằng hộ pháp thỉnh thoảng lại trèo lên ngọn thật cao phóng tầm mắt về phía xa mờ cố tìm những dấu hiệu đầu tiên của cái bản Mù U ấy. Những lúc đó, bọn tôi xúm lại dưới gốc, há mồm, ngước mắt lên chờ đợi. “Thấy chưa? Thấy gì chưa?”
Thằng hộ pháp nhìn rách cả mắt lại bị thằng học giả cứ hỏi cuống lên, nó phát bực: “Thấy cái nỗ đít, nàng bản đâu ra, rặt những núi với rừng”. Mọi ngày đi làm về, thường thường nó hát nghêu ngao dăm câu đầu voi tai chuột, từ hôm buổi chiều chỉ có bữa cháo, nó quên hết mọi bài hát trên đời, nuốt xong ba bát cháo, mỗi ngày mỗi loãng, nó vứt bát nằm ngửa ra chẳng nói chẳng rằng. Thằng học giả chịu đói giỏi hơn, hình như nó ăn chữ nghĩa thay cơm, chưa tối nó đã vác củi đốt đống lửa thật sáng rồi lôi ra cuốn sách dày cả gang tay cặm cụi đọc, đọc chán rồi lấy giấy bút ra viết chẳng biết nó viết lách những gì chỉ thấy miệng nó lầm bầm, lầm bầm làm cho thằng cấp dưỡng ngồi ở xa lại tưởng nó nhai gạo sống, tôi phải can: “Không phải đâu. Nó nhai chữ đấy”, thằng hộ pháp đang vuốt bụng lép kẹp cũng phải bật cười: “Mẹ kiếp, có nhai cả đấu chữ cũng chả bằng có bát cơm nóng”. Nói rồi nó đứng dậy, đi tới chỗ thằng học giả: “Sách gì đọc lên anh em nghe coi có quên được cái đói không nào?”
Thằng học giả trợn tròn cặp mắt vốn đã trợn lên của nó:
“Chúng mày muốn nghe thật không?”
“Mày khinh tao óc bã đậu không nghe được sách của mày hả? Đọc đi, đọc ngay cái trang mày đang giở ra kia kìa.”
Thằng học giả nhếch miệng cười rồi hắng giọng đọc một hơi, miệng dẻo quẹo. Tôi thấy thằng hộ pháp và thằng cấp dưỡng cứ đực mặt ra, còn tôi thì ù cả hai tai như đang nghe người ngoại quốc nói chuyện. Tuy nhiên đứa nào đứa ấy làm ra vẻ lắng tai chăm chú lắm, thằng hộ pháp lại còn ra vẻ ta đây hiểu rõ, thỉnh thoảng lại hỏi cắt ngang:
“Duy tâm nạc quan là mấy thằng thày bói, thày cúng phải không? Ai mà chẳng biết.”
Thằng học giả phải đặt sách xuống sửa thằng hộ pháp nói cho đúng: duy tâm chủ quan chứ không phải lạc quan.
Thằng hộ pháp cứ gạt đi:
“Ôi già, đại khái cũng thế cả. Mày giỏi mày giảng thử bọn tao nghe...”
Chao ôi, những lời nó giảng lại rắc rối tối mù còn hơn cả điều nó đọc trong sách. Tôi nghe mãi sốt ruột, chịu không nổi phải gắt lên:
“Mày giảng thế, đến giáo sư đại học cũng chẳng hiểu huống hồ bọn tao.”
Thằng hộ pháp hùa ngay theo:
“Thôi vứt mẹ nó sách đi, kiếm cái gì bỏ bụng lại chả hơn cứ ngồøi nghe nó ný nuận suông ư?”
Thằng cấp dưỡng giật mình vội giao hẹn trước:
“ Tìm đâu tìm chớ có động vào ba lô thực phẩm. Tao đã ghi sổ đủ cả rồi, mất gì cứ chúng mày”.
Thằng học giả gói kỹ cuốn sách, lấy sợi dây buộc thật chặt theo thói quen rồi mới thì thào vào tai tôi:
“Tao biết chỗ này có cái ăn.”
“ Ở đâu?”
“Trong ba lô ông toán trưởng chứ đâu. Này, có cả thịt hộp nữa, mày tin không?”
Tất nhiên là tôi tin, bây giờ có chuyện gì mà ông không làm được, tôi đã hiểu ông khá rõ, nhất là trong chuyến đi này.
“Vậy đúng hôm trước mày lấy trộm mì chính của ông ấy rồi “.
Thằng học giả cười nhạt:
“Tao chỉ lấy lại cái ông ấy lấy của bọn ta thôi. Mày có định giúp tao một tay “thó” hộp thịt không?”
“Chữ nghĩa đầy một bụng như mày cũng đi ăn cắp vặt hả?”
“ôi nhà đạo đức giả...”
Nó thốt lên thế rồi giảng giải cho tôi nghe cái lý thuyết ““Ăn cắp cái bị ăn cắp tức là không phải ăn cắp”. Tôi chờ nó nói chán chê mới thủng thẳng:
“Tao thấy ông toán trưởng nói cũng có phần đúng, cái bọn trí thức chúng mày không đáng cục cứt”.
Nó không cãi lại chỉ nhe răng ra cười:
“Đúng đấy, mày nói đúng đấy, ở cái xó rừng này thì công cũng như quạ cả thôi”.
“Vậy sao mày không xuống thành phố ở cho có giá?”
Thật lạ, tôi chỉ nói vậy mà mặt nó nhăn lại như bị ong đốt, người run bần bật như thằùng lên cơn sốt rét.
“Mày làm sao? Trúng gió hả?”
Nó gạt tay tôi ra, lững thững bước đi như người mộng du, giọng mê sảng:
“Trời ơi, tôi điên quá, bố ơi, con giết bố rồi, sao lại điên quá không biết...”
Tôi để mặc nó nằm vật bên đống lửa, cời rộng cho cháy to lên, phả hơi nóng vào người nó. Từ lâu tôi đã cảm thấy thằng điên điên khùng khùng này mang nặng một nỗi u uẩn nào đó, hoặc thất tình, hoặc gia sản bị tịch thu trong cải tạo tư sản nhưng tôi không thể ngờ nó lại mang tội giết cha, không, chắc không phải đâu, chắc nó lẩm bẩm những điều đã đọc trong sách như mọi khi thôi. Tôi tự an ủi vậy nhưng vẫn bối rối nhìn nó nằm co quắp, mắt nhắm nghiền trong khi từ trên cao vẫn thoang thả rơi những chiếc lá khô đậu trên người nó. Tôi cứ ngồi bó gôl mặc những ý nghĩ nhức nhối trong đầu tàn theo ngọn lửa.
Tôi cúi xuống bế bổng thằng học giả lên đặt vào võng của nó. Ngủ đi, sáng mai dậy, bóng đêm sẽ tan, cơn điên sẽ hết. Tôi đẩy nhẹ võng đu đưa cho nó. Gió bỗng nổi lên ầm ầm quét quang đám sương mù quẩn quanh từ chiều mà ngọn lửa xua mãi không chịu tan. Thằng hộ pháp đã dậy từ lúc nào, kéo tay tôi thì thào:
“Thằng học giả sao thế?”
“Trúng gió.”
“Bỏ mẹ, nó mà quỵ thì mai chỉ còn tao và mày vừa phát cây vừa kéo thước...”
“vậy đã sao?”
“Bò ra rừng chứ sao? Rồi đến cái thủa nào mới tới được bản Mù U đong gạo.”
Tôi bật cười về nỗi lo cho cái dạ dày của nó, thảo nào nó không ngủ được phải bò dậy, nếu không nó đã đánh một giấc tới sáng.
“Mày có xem bản đồ của lão toán trưởng không?”
“Có tao xem rồi”
“Xem kỹ không?”
Quái lạ, xưa nay thằng này có bao giờ quan tâm tới bản đồ, bữa nay cái đói làm nó lẩn thẩn giống thằng học giả rồi sao? Tôi trố mắt:
“Tao xem kỹ rồi. Sao mày bỗng đốc chứng quan tâm cả cái đó?”
Thằng hộ pháp đảo mắt nhìn quanh, ghé tai tôi thì thầm:
“Tao nghi lão toán trưởng lắm. Có khi trêõn bản đồ đếch có cái bản Mù U ấy đâu, hoặc nếu có thì cũng còn khướt mới tới chứ chả phải như lão ấy nói đâu. Lão ấy lừa cho mình yên tâm đi đến đỉnh Hua Ca đấy thôi.”
Tôi bật cười về nỗi lo xa của cái thằng vốn chẳng quen nghĩ ngợi. Tôi nhớ ra tôi có xem bản đồ và có nhìn thấy một cái chấm nhỏ kèm theo hai chứ Mù U, tuy nhiên điều đó cũng chẳng chứng tỏ được chúng tôi chỉ còn cách nơi có xã hội con người ấy vài ngày đường như ông toán trưởng dự tính. Làm sao tin được tấm bản đồ chụp từ trên máy bay ấy, ngay đến đãy vách đá dài dằng dặc thế mà nó có “chụp” được đâu. Vậy nhưng giữa mênh mông rừng rậm núi cao này, ngoài nó ra, còn biết bám víu vào đâu? Tôi đành phải lên tinh thần cho thằng hộ pháp bằng những lời lẽ chính tôi cũng không tin. Nghe xong nó lắc lắc cái đầu bù xù:
“Mày chỉ giỏi bênh ông toán trưởng. Tao nói thực, còn ít gạo vậy, giờ cứ quay bố nó lại, lần theo tuyến mà về vẫn còn kịp, đi tiếp nữa là chết đói cả lũ giữa rừng”.
“Mày điên hả? ông toán trưởng thà chết còn hơn cho cả toán bỏ nhiệm vụ”.
“Kỷ luật là cùng chứ gì? Cốt giữ được cái mạng mình thôi, có phải đi hót cứt cũng được”.
“Sống thế thì nhục lắm. To xác như maỳ không ngờ cái gan chỉ bằng ngón tay”.
Tôi nói khích nó một chặp nữa chẳng hiểu có lọt tai câu nào không, chỉ thấy mắt nó trợn trừng, đôi lông mày sâu róm rúm lại rồi nín lặng, lủi thủi quay về võng.
Ngày hôm sau thằng học giả vẫn bò dậy đi làm, cứ như đêm qua không có chuyện gì xảy ra, đến chiều, khi thằng hộ pháp leo lên ngọn cây cao, phóng tầm mắt ra xa, nó lại ngước lên hỏi toáng: “Thấy gì chưa mày? Thấy gì chưa?”
Mấy ngày liền như vậy, thằng hộ pháp vẫn chưa thấy gì, cái bản Mù U ấy vẫn mù tịt ở nơi nào đó. Ông toán trưởng thôi không nói cứng nữa, ông cũng phải thừa nhận với bọn tôi bản đồ khu vực này không chắc đã chính xác, mọi người phải chuẩn bị tinh thần, sẵn sàng đón nhận tình huống xấu nhất, khi bao gạo của thằng cấp dưỡng đã rỗng hết mà cái bản Mù U ấy vẫn ở tít mù khơi. Bây giờ ông bắt nó nấu cháo cả hai bữa, tự tay ông đong gạo đổ nồi. Sáng sớm ôngthôi không còn thổi còi bắt tập thể dục nữa, suốt ngày ông nín lặng, mặc cho chúng tôi phát tuyến tới đâu thì tới, không giục “nhanh lên” để đảm bảo năng xuất hàng ngày nữa. Buổi chiều đi làm về, nuốt xong bát cháo loãng, cả bọn leo ngay lên võng nằm im để tiết kiệm sức. Thằng học giả cũng thôi không còn sờ đến những cuốn sách. Riêng ông toán trưởng, buổi tối vẫn loay hoay bên cái máy vô tuyến điện. Tôi biết ông vẫn đánh đi những báo cáo nhận về những mệnh lệnh, nhưng không hề hé răng “ phổ biến tức thời” như mọi bữa nữa. Tuy nhiên, sau mỗi lần nhận tin, không thấy gương mặt ông rạng rỡ, mừng vui như trước, ông cau có, lầm li, tức giận chuyện gì đó. Vào một tối, khi cả bọn đã leo lên võng, ông ra hiệu muốn nói chuyện riêng với tôi.
“Tôi đã điện về Ban chỉ huy đề nghị cho chúng ta quay lại...”
Tôi giật mình nhìn ông như không tin ở tai mình. Ông toán trưởng của tôi, người nổi tiếng trong toàn Đoàn khảo sát về ý chí gang thép “khó khăn nào cũng vượt qua, kế hoạch nào cũng hoàn thành”, vậy mà nay lại bỏ cuộc, từ chối nhiệm vụ? Hay cũng giống như thằng học giả, thằng cấp dưỡng, ông cũng sắp điên rồi? Ông ngập ngừng như định thổ lộ chuyện gì, rồi có lẽ tôi có vẻ không sẵn sàng nghe, ông im lặng, rụt cổ vào tấm khăn bông đang khoác lên người. Kể từ hôm tôi nổ ông về chuyện không cho thằng hộ pháp buông máy VTĐ khi nó rơi xuống sông, ông có vẻ dè chừng, thôi không còn hỏi ý kiến tôi nữa. Tôi cũng chỉ để ý tới ông mỗi khi ông phổ biến chuyện công tác. Theo lối nói của thằng học giả, tôi và ông chỉ là hai phần tử trong một tập hợp có chung một mục tiêu là sản xuất và cùng theo một lý thuyết là “ người ta chỉ ăn để mà sống chứ khôngphải sống để mà ăn”. Bởi vậy toàn bộ quan hệ giữa ông và tôi chỉ xoay quanh có mỗi cái việc làm sao đi tới được đỉnh Hua Ca và làm sao sống được khi gạo sắp hết.
Ôâng toán trưởng cứ ngồi như tượng mãi vậy, trong lúc tôi băn khoăn tìm cách rút nhẹ về võng làm một giấc, tránh không khí nặng nề, căng thẳng này. Thân phận chỉ quen cầm dao phát cây như tôi giúp gì ông được? ông là cái đầu, còn tôi là tay chân, cùng lắm gãi cho ông khỏi ngứa vậy thôi. Ngẫm nghĩ, chỉ huy là việc của ông chứ. Rốt cuộc hình như ông cũng đã nghĩ xong và lên tiếng:
“Tôi đã ba lần điện xin cho anh em quay lại nhưng Ban chỉ huy không đồng ý. Chúng ta vẫn phải tiến tới đỉnh núi Hua Ca bằng bất cứ giá nào. Mệnh lệnh là mệnh lệnh, tuyệt đối phải chấp hành”.
Tôi nghĩ bụng giờ có quay lại cũng không được nữa, gạo đâu ra, chuyện đó lẽ ra ông phải tự quyết định ngay khi gặp vách đá kia, than ôi, ông chỉ quen nghĩ trong những điều cấp trên đã nghĩ.
“Bằng giá nào cũng phải đi đến được đỉnh Hua Ca. Bởi vậy phải lường trước mọi diễn biến xấu nhất...”
Cái tính lo xa của ông, tôi không lạ, ông là chuyên gia của các thứ diễn biến: nào tư tưởng, nào thời tiết... thứ nào cũng nằm trong dự tính kế hoạch cả rồi, tôi chỉ lạ sao ông bàn chuyện đó với tôi, một thằng cán bộ chẳng phải, đảng viên cũng không. Vậy là sao?
“Trong trường hợp xấu nhất nếu tôi bị ốm nằm xuống, các cậu cứ đi tiếp, tôi sẽ giao phó bản đồ, địa bàn tài liệu cho cậu.”
Tôi giật nảy người, ấy chớ, chớ xớ rớ vào chuyện đó, chẳng may không dẫn tụi nó tới được đỉnh Hua Ca lại lạc sang đỉnh của nợ nào đó thì bọn nó giết tôi. Tôi chối đây đẩy, tôi không có trình độ, tôi không quen chỉ huy, tôi không có uy tín, tốt hơn hết khi cần ông nên giao cho thằng học giả, nó làm việc đó giỏi hơn tôi.”
“Không được, về nguyên tắc tổ chức tôi không thể nào giao cho nó được. Cậu hiểu ý tôi chứ?”
Tất nhiên tôi hiểu, ông không tin thành phần tư sản, ngay đến khẩu súng trường cổ lỗ ông còn không cho nó mó tới huống hồ cả một hồ sơ thăm dò khảo sát của một con đường quan trọng. Cái ý thức cảnh giác đó đã ăn vào máu ông chẳng thể nào thuyết phục nổái, bởi vậy tôi đành ngồi im nghe ông dặn dò cách dùng địa bàn, xem bản đồ, ghi sổ các số liệu đo đạc xem ra cũng chẳng khó khăn gì, cứ bám chắc lấy cái hướng ông vạch sẵn, ắt là phải tới nơi.
Tuy nhiên đó là giả dụ vậy thôi, lúc ông mà nằm xuống thì khó có thằng nào còn đứng được, ngoài những cơn hen đôi khi hành hạ, thân hình gày guộc của ông vẫn săn chắc dẻo dai đến mức đôi lúc nhìn ông cặm cụi bên tờ bản đồ dưới ánh đèn dầu sau một ngày leo trèo vất vả thằng học giả cũng phải thốt lên: “Cái lão này thật chẳng khác con báo rừng, quái, sức mạnh lão ở đâu ra nhỉ? “ Quả thực, trong thâm tâm, đôi lúc tôi cũng muốn ông... mệt mỏi, hoặc cảm cúm sơ sơ gì đó để tôi được nghỉ leo trèo một, hai ngày hoặc
ít ra cũng thoát được tập thể dục, nằm nấn ná thêm vài giờ lúc sáng sớm. Vậy mà không, ông vẫn trớ trơ và có vẻ lại còn khoẻ khoắn hơn cả bọn tôi nữa kia.
“Bác đừng quá lo thế, tới cái lúc bác ốm phải nằm đấy, chắc bọn tôi cũng chẳng thằng nào còn khỏe đâu.”
Tôi thoái thác bằng cái cớ cuối cùng như vậy, ông gấp tờ bản đồ lại, ngước lên nhìn tôi:
“Trong tình hình này, chuyện gì cũng có thể xảy ra, tôi phải giao phó trước cho cậu trách nhiệm nặng nề ấy.”
Chính vẻ vật nài trong ánh mắt, buồn buồn trong giọng nói của ông đã làm tôi nín lặng, và như vậy tôi đã chấp nhận để mai kia ông trút sang tôi cái gánh nặng đang đè trên đôi vai xương xầu của ông.
MƯỜI
Trong tai tôi còn ứ đầy lời lẽ ông toán trưởng bỗng một tiếng súng khô, ngắn, nổ vang trên đỉnh núi. Thằng học giả tụt trên võng xuống, gọi:
“Thằng cấp dưỡng nó bắn đấy, chắc trúng con gì rồi.”
Nó rủ tôi đốt bếp đặt nồi nước chờ hai thằng kia khiêng thịt về, vì lúc kéo thằng cấp dưỡng đi săn, thằng hộ pháp dặn hễ nghe tiếng súng là ăn chắc, ở nhà cứ chuẩn bị. Tôi ngồi nhìn thằng học giả loay hoay thổi lửa cho nước chóng sôi, không nhịn được cười:
“Tao ngờ không khéo hai đứa nó cho mày ăn thịt hươu.”
“Trên cao này làm gì có thứ đó”
“Không có sao nó vừa bắn đấy. Lạy trời nó vác về con cày hương tao nấu cho ăn thì đến lúc chết, thịt chúng mày vẫn còn thơm. Nhưng cái loại này hiếm lắm, tuyệt chủng mất rồi, trên cao thường có sóc bay, cầu trời bắn được một con nấu cháo cũng sướng”.
Nó chọc chọc cành củi cho ngọn lửa bừng to, lầm bầm câu gì đó rồi thở dài: “vùng núi đá này không có sóc bay đâu. Thôi, tao cầu lấy một con thỏ vậy, đúng rồi, thỏ được nhiều món lắm, thỏ rô ti, thỏ xi vê...”
Rồi nó kể tôi nghe cái chuồng thỏ ngày xưa của nhà nó nuôi được cả vài chục. Cái giông đó dễ nuôi, mắn đẻ, ăn thịt xong lại có được bộ lông, mà ngày xưa nhà tao đâu có thèm ăn thịt thỏ, cái đó nhiều quá, phát chán, nên chỉ dành cho đầy tớ trong nhà. Ngày xưa, nhà tao có năm đứa tất cả: một thằng nhỏ sai vặt, một con sen, một u già, một mụ bếp và một thằng lái xe thuyên đưa mẹ tao đi lễ chùa và đưa đón tao đi học. Trời ơi, sao cái thời đó sướng thế, lúc nào một bên túi cũng có cả xấp tiền lên, túi bên kia để rặt tiền lẻ, muốn tiêu gì thì tiêu, muốn ăn gì cứ việc gọi, vậy còn thèm khát gì nữa đâu, ở nhà chả bao giờ thiếu cái gì. Trong tủ rượu lúc nào cũng có whisky, rhum, cinzano, cointreau, vang, sâm banh... Mở ra là có sẵn thịt nguội, giăm bông, ba tê, phó mát, thôi thì đủ thứ thượng hạng cả thôi. Thời dó tao sướng quá mà không biết mình sướng, vẫn cảm thấy đời là bể khổ mới chết chứ. Mẹ tao cứ than phiền:
“Sao lúc nào con cũng buồn bã ủ ê thế? Con muốn cái cứ nói ra bố mẹ mua cho...”
Không, tao chẳng muốn mua gì, có thiếu gì nữa đâu. Vậy nhưng để làm tao vui, mẹ tao vẫn khuân về nào xe gắn máy, nào radiô quay ới a, đồng hồ Omega... Vô ích, ngoài giờ đi học, suốt ngày tao ru rú trong buồng, đọc sách chán lại nằm ngửa nhìn trần nhà, buồn đến ứa nước mắt mà chẳng hiểu vì sao lại buồn?
Thằng học giả kể đến đó, nước trong nồi đã sôi nảy cả vung. Tôi dụi bớt củi, khích cho nó kể nữa.
“Chắc cu cậu phải lòng con nào mà nó lại không ưng cậu chứ gì?”
Quả nhiên nó hăng lên vỗ ngực:..
“Thời đó học giỏi, đẹp trai, con nhà giàu như tao thiếu gì gái theo. Cô nàng búp bê cạnh nhà tao đấyÏ, mê tao như điếu đổ. Mày cứ tìm cả mười cái trại mồ côi của mày cũng chẳng có cô nào đẹp như nàng. Tóc mây nhé, đôi bàn tay óng nuột như ngà, còn đôi mắt, ôi đôi mắt thăm thẳm hồ thu hớp hồn người. Tao dám cược với mày không một thằng văn sĩ nào tả nổi vẻ đẹp của nàng. Xinh xắn như một con búp bê, dịu dàng như con em gái mà lại nồng nàn say đắm nữa chứ. Cứa sổ phòng nàng nhìn sang phòng tao cách nhau chưa đầy hai chục mét, nhưng gần nhà xa ngõ, bố mẹ của cả hai bên đều nghiêm lắm thành ra tuy nhìn thấy nhau mà vẫn cách xa. Ngày nào tao cũng viết thư, băn súng cao su sang cho nàng. Nàng tưởng tao buồn bã u ê vì tương tư nàng nên lại càng thương yêu lắm. Mỗi lần lẻn nhà gặp nhau trong rạp chiếu bóng, nàng lại ôm lấy tao vuốt ve:
“Sao có em rồi mà lúc nào anh cũng rầu rĩ thế?”
Tao bảo nàng, anh cũng chẳng biết nữa càng được em ôm trong vòng tay anh càng thấy buồn. Mày có biết tại sao không?”
Tôi không thạo tâm lý, nhưng tôi đoán tại nó chưa được ngủ với nàng, mới chỉ được ôm thôi, bởi vậy càng ôm lại càng buồn. Nghe tôi nói vậy, nó nhìn tôi với ánh mắt khinh bỉ:
“Thằng đầy tớ nhà tao cũng nói như mày đấy. Cậu cứ ăn gỏi phăng ngay cô ấy đi, hết buồn ngay ấy mà. Bọn khố rách áo ôm chúng mày một duộc như nhau cả: với đàn bà chỉ có lên giường, lên giường...”
Nó chợt sững ra vì biết lỡ lời nhưng rồi nó hiểu ngay rằng “cái thằng khố rách áo ôm” đang ngồi trước mắt nó là cái thằng tôi, nó mới cười phá lên:
“Tao nói thực đó, chưa bao giờ tao có ý định xúc phạm tới nàng. Chỉ mới cầm tay, đặt một cái hôn lên đó, tao cũng run bắn lên rồi. Tao không muốn đòi hỏi ớ nàng bất cứ cái gì, ngược lại tao chỉ muốn tặng nàng những gì quý giá nhất.”
Giọng thành thực của nó làm tôi cũng phải bùi ngùi.
“Những cái đó mày thiếu gì: radiô, xe máy, đồng hồ...”
Nó lại nhìn tôi với ánh mắt ban nãy nhưng lần này không mắngÏ mỏ nữa:
“Nhưng có một cái tao không có...”
“Cái gì thế?”
“Sự nghiệp”.
“Sự nghiệp?”
Tôi kêu lên kinhngạc, cái đó thường là của chung mọi người, chẳng hạn sự nghiệp xây dựng giao thông, sự nghiệp phòng chống bệnh sốt rét... cái đó đâu phải của một người.
Nó bỏ ra ngoài tai những lời lẽ của tôi, tiếp tục kể:
“Phải đấy, tao muốn có một sự nghiệp gì đó đề xứng đáng với tình yêu của nàng. Buôn bán đồ sắt như bố tao à... tầm thường. Học hành mai kia ra giáo sư, bác sĩ? Chả có gì khó khăn. Không. Tao muốn có một sự nghiệp lừng lẫy. Làm gì bây giờ? Tao cứ nghĩ, nghĩ mãi vẫn thấy tắc tị. Chẳng có cái việc gì đáng mặt nam nhi cả. Buồn quá phải không mày?”
“Mẹ kiếp, tôi kêu to, đúng là nỗi buồn của con nhà giàu...”
“Đúng đấy, thằng nghèo trông thấy miếng ăn đã vui rồi...”
“Rốt cuộc mày định xây dựng cái sự nghiệp gì?”
Nó lặng đi rồi mếu máo:
“Tao đã bắt dầu cái đó bằng cách... giết bố tao.”
Tôi co rúm người, không dám nhìn gương mặt như nặn bằng sáp đang bị ngọn lửa trong lòng nó nung đốt làm méo mó. Tôi ngước nhìn trời đêm lơ lửng ông trăng như một cục sắt uốn cong bị nung đỏ. Tôi không ưa nghe những chuyện “rắc rối cuộc đời “ nơi phố phường. Trong các trại mồ côi nơi tôi lớn lên, người ta sống đơn giản hơn nhiều. Tuy nhiên ánh mắt vật nài của nó làm tôi không nỡ bỏ đi, đành ngồi cứng người cho nó trút bầu tâm sự.
“Cái nỗi buồn con nhà giàu ấy tan biến sau ngày Hà Nội được giải phóng. Lý tưởng, sự nghiệp, tình yêu... mọi trăn trở trước đây bỗng chốc giải đáp được hết, cuộc đời như một bức tranh bám bụi vẫn để trong xó tối, nay được rọi sáng tới từng phân vuông, không còn gì phải hoài nghi ngẫm nghĩ kiểu Hamlét nữa. The álà tao trút bỏ bộ vỏ trưởng giả, tự xỉ vả qúa khứ, tôn thờ lao động gân bắp; coi khinh gốc gác gia đình. Trong cái cơn say tập thể đang lan tràn khắp thanh niên thành phố đó, tao không chịu thua kém bất cứ ai kể cả cô nàng búp bê lúc này suốt ngày vác loa đi khắp phố, nhảy đồ rê mi, đốt sách nô dịch quét rác đầu đường. Hãy đi xa hơn nữa, máu trong tim tao sôi lên và tao xắn tay làm cách mạng cả trong giađình. Trước hết đám đầy tớ, xin mời các vị đi phục vụ nhân dân, còn chúng tôi, mỗi người phải tự hầu hạ lấy mình. Mẹ tao trợn tròn cả mắt khi thấy cậu con trai quý hùng hục bổ củi, nấu cơm giặt giũ...”Con ơi, lao động thì tốt thôi, nhưng sao con lại dẹp bỏ tủ rượu tây, sao không làm trứng ốp lết ăn đáng, sao không pha cà phê...” Cả ngày mẹ tao cứ ca cầm thế. Tao mang sách ra giảng giải: “Phải xóa bỏ bóc lột, phải sống bằng sức lao động, phải khắc phục tâm lý hưởng thụ...”
Than ôi, đầu óc người già còn khó tiếp nhận cái mới hơn cả con nít nữa, thôi cũng đành, biết làm sao... Thế rồi đến cái ngày Ban cải tạo tới nhà tao kiểm kê tài sản. Suốt một ngày họ xem xét, đối chiếu bản kê khai với những cái gọi là tài sản cố định. Thế còn vốn lưu động ở đâu? Tao biết trong cái két của bố tao chỉ còn lại vài xấp tiền mặt mà dù cho đã được học tập, giải thích, vận động cả tháng trời, ông vẫn khăng khăng khai báo chỉ có ngần đó. Tao đã chờ, chờ mãi ở ông một sự thành khẩn để rũ mọi quá khứ bóc lột, trở lại hai bàn tay trắng nhưng sạch sẽ làm lại cuộc đời, nhưng tao đã thất vọng. Và rồi vào cuối cái ngày cuối cùng của đợt kiểm kê đó tao đã kéo ông Trưởng ban ra nhà sau, rỉ tai: “Tất cả ở trong chậu cây cảnh phòng khách ấy”. Nói xong, tao vác xe đạp bỏ đi tới trường. Ngay sau đó, khi cái gói ba mươi lạng vàng được lôi ra từ đáy chậu cây, bố tao đã bật khóc và mẹ tao đã ngất xỉu.
Tôi buông một tiếng thở dài, quay người đổ thêm nước vào nồi đã cạn bắt cháy xèo xèo. Liệu tôi sẽ bỏ cái gì vào đó khi lát nữa thằng cấp dưỡng và thằng hộ pháp tay không trở về?
“Đêm hôm đó bố tao thắt cổ chết trong phòng, còn mẹ tao cứ như điên như dại, ghì chặt lấy tao gào khóc:
“Con ơi, con giết bố rồi con ơi...”
“Rồi sao nữa?”
“Đôi mắt, trời ơi đôi mắt mẹ tao lúc đó, mày có biết không, bây giờ vân còn đang nhìn tao”.
Nó rũ xuống nức nở như một cành củi cháy hết chỉ còn lại tàn tro. Trời đêm bỗng như tối lại. Tôi ngước nhìn, ông trăng lưỡi liềm đã trốn đâu mất. Dường như thanh sắt cong nóng đỏ ấy đã rơi vào lòng tôi cháy

MƯỜI MỘT
Khuya lắm hai thằng mới nghễu nghện xách súng về. Không bắn được con thú nào, nhưng thằng hộ pháp ôm về một cái gói gì đó. May quá còn có được cái bỏ nồi. Hạt gắm đấy, đổ nước đi mà rang, ngon không kém hạt dẻ”.
Thằng hộ pháp ghé tai tôi hỏi nhỏ:
“Nãy mày có nghe tiếng súng không?”
“Có chứ, tao tưởng chúng mày khiêng về con hươu...”.
“Hươu nai đâu ra. Đừng lộ cho ông toán trưởng nhé. Thằng cấp dưỡng bắn tao đấy.”
Tòi giật nảy người nhìn thằng hộ pháp nghiêng đầu để tôi thấy một bên vành tai máu còn động thành vệt. Trời đất chỉ một đốt ngón tay nữa thôi đầu nó toác làm đôi. Tôi sẵng giọng:
“Chúng mày đùa kiểu gì vậy? “..
Thằng cấp dưỡng cúi mặt xuống nồi hạt gắm:
“Tao không có đùa”.
Tôi ngẩn ra, không thể hiểu sao cái thằng lù khù nhất bọn lại to gan đến thế. Mà nó bắn ai cơ chứ?. Bắn ngay đồng đội của nó. Thằng hộ pháp nhìn quanh quẩn:
“Thằng học giả đâu? Gọi dậy ăn hạt gắm chứ”..
“Thôi để phần cho nó”.
Tôi gạt đi và chờ thằng cấp dưỡng ăn xong, leo lên võng, tôi mới hỏi thằng hộ hộ pháp:
“Tại sao nó bắn mày? “
Nó cười hềnh hệch:
“Cái thằng khùng,.. tao chỉ bảo nó mày là đồ ăn hại. nằm suốt ngày: súng trong tay mà không kiếm ra được con thú nào. Nó chỉ nín lặng không nói gì. Đi một đoạn nữa. tao lại bảo cái thứ mày chỉ đáng cầm súng gỗ, mà có biết cò súng nó nằm chỗcnào đâu mà cũng đòi vác súng đi săn. Lúc đó nó mới mở miệng: “mày có câm miệng lại không tao bắn nát đầu... ối mẹ ơi, tao vừa cất tiếng: tao đố mày đấy đã nghe cái đùng, lửa tóe lên, vọt ngang đầu, sờ lên thấy dính nham nháp mới biết viên đạn vừa sạt qua tai. Tao sợ đắng cả miệng, cứ im thin thít không dám chửi, nó điên lên đòm phát nữa thì chỉ có đi ngủ với giun. Mẹ kiếp, cái thằng tẩm ngẩm thế mà gớm.”
Tôi không nhịn được cười:
“Ai bảo mày thách nó. Từ nay đừng cậy khỏe, lấy thịt đè người có ngày chết oan”.
Tôi chợt nhớ tới sứ mệnh ông toán trưởng mới giao phó mà thấy ngán, chỉ huy được ba thằng khỉ đột này thật chẳng dễ dàng chút nào, có vậy mới thấy ông toán trưởng thật giỏi, ấy là chưa nói tới ông còn có cái máy VTĐ, mai mốt ông ngã xuống, cái máy liên lạc với Ban chỉ huy ấy cũng chết luôn, tôi lấy gì để dọa bọn nó? Tôi chợt thấy buồn cười cho mình, ông toán trưởng chỉ mới gửi gấm đôi lời vậymà đã lo xa quá, thế mới biết cái máu quyền lực ghê gớm thật, dính vào ai là người đó cứ bốc lên như nhập đồng. Thôi thôi, tránh cho xa, cứ làm thằng phó thường dân ăn ngủ thoải mái lại khỏe. Lập tức tôi chìm vào giấc ngủ trong chiếc võng lúc này giá rét của đêm rừng đã biến nó thành cái tủ lạnh. Tôi nằm mơ thấy mình trượt chân trên vách đá và rơi mãi, rơi mãi xuống vực sâu. Thằng học giả lảm nhảm: “Nó đang rơi trong hố thẳm ở chính trong nó”. Thằng hộ pháp cười ngóac mồm: “Ối giời ơi, khỉ nó hiếp đít tôi”. Thằng cấp dưỡng không nói gì hết, nó giương súng ngắm vào đầu ông toán trưởng trong lúc ông đang ăn một cái bánh chưng khổng lồ.
Chiều ngày hôm sau, khi thằng hộ pháp trèo lên ngọn cây cao, phóng tầm mắt về phía xa, thằng học giả lại ngước lên hỏi to: “Thấy gì chưa? Mày đã nhìn thấy gì chưa? Bỗng nhiên thằng hộ pháp hét lên đến lạc giọng:
“Thấy rồi chúng mày ơi... thấy rồi, ối giời ơi, nhiều nhà lắm, nhiều lắm...” Nó cuống quít tụt xuống, huơ chân múa tay mô tả cái bản Mù U ở phía xa mà nó là người đầu tiên nhìn thấy.
Ôâng toán trưởng cũng đi tới, hỏi vội vã:
“Còn bao nhiêu kilômét nữa? Còn bao nhiêu kilômét nứa?”
Thằng học gia ûcứ trố mắt lên: “Thế... thế kia à? “ rồi nó lẩm bẩm: “Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Thằng hộ pháp nhe răng ra cười:
“Thôi bố. sắp được đớp thoải mái rồi, còn e ngại cái nỗi gì?”
Riêng tôi chưa tin, cái thằng voi đực này dám lừa anh em để cười một trận cho quên đói lắm. Tôi để mặc ông toán trưởng đang vẫy tôi lại xem bản đồ, tôi leo tót lên cây đúng vào chỗ lúc nãy thằng hộ pháp đã trèo. Quả thực, qua vòm lá ken đầy, tít mãi phía xa kia, vượt qua dãy núi xanh xẩm, tôi nhìn thấy những nếp nhà nhỏ xíu ẩn chênh vênh bênsườn quả đồi thấp nom như những tổ chim xinh xinh. Mù U... ôi đúng thực là bản Mù U, niềm hy vọng của chúng tôi kia rồi. Từ đây sang đó, với cái kiểu đi “như khỉ trèo rừng” của cả toán, giỏi lắm chỉ già một ngày nữa là tới nơi. Thằng học giả đứng dưới, ngứa ngáy chân tay cũng theo tôi trèo lên, hỏi rôl rít: “Đâu? đâu? Mù U đâu? “, và rồi khi nhìn thấy, mặt nó sững ra, trầm ngâm như những lúc nó cắm cúi đọc sách bên đống lửa, tôi phải nhắc nó cẩn thận, sung sướng quá buông tay ra, ngã chết tươi. Tuy nhiên nó vẫn đờ đẫn, mắt nhìn không chớp về dãy nhà phía trước.
“Thôi, tụt xuống đi, mai mốt tới nơi tha hồ mà ngắm”.
Dường như không nghe thấy tôi nói, nó vẫn đắm chìm vào những ý nghĩ riêng, rồi bất chợt nó nhìn tôi:
“Mày bảo liệu ở đó có hòm thư bưu điện không?”
Tôi phì cười:
“Sao mày không hỏi ở đó có cửa hàng gạo không?”
“Nếu không có hòm thư nhất định phải có người đi về xã về huyện phải không? “.
“Mày hỏi chuyện của nợ ấy làm gì? “.
“ Tao... tao gửi thư...”
“A... hiểu rồi, gửi cho nàng búp bê?”
Nó trịnh trọng gật đầu, vẻ mặt rất nghiêm trang làm cho tôi không dám buông lời chớt nhả. Hóa ra những xấp giấy nó vẫn cặm cụi viết vào những buổi tối là gửi cho cô láng giềng. Đấy, cứ tưởng nó dở người, hóa ra cũng yêu đương lãng mạn. Tội nghiệp, đã khổ về chữ nghĩa còn đèo bòng thêm cái khổ vì tình nữa, hèn gì lúc nào nó cũng ngơ ngơ ngác ngác. Tôi cất tiếng hỏi để nó tỉnh trí trở lại kẻo ngã gãy cổ:
“Mày vẫn còn yêu nàng lắm phải không?”
“Lẽ sống của tao đấy. Không có nàng làm sao tao sống nổi cái kiếp người đầy khổ ải này. Nàng là người duy nhất hiểu được tao, cảm thông tao”.
Câu chuyện của nó xem ra đã nhuốm vẻ bùi ngùi, cái đó thật chả hợp với tôi chút nào, bởi vậy tôi vội vã tụt xuống bỏ mặc nó với cô nàng búp bê trên ngọn cây. Vừa giáp mặt tôi thằng hộ pháp đã hỏi ngay:
“The ánào, mày tin chưa.”
Tôi cười nhoẻn, quay sang ông toán trưởng:
“Đúng chỉ non chục cây số nữa là tới Mù U thôi”.
Lâu lắm tôi mới thấy nụ cười trên miệng ông:
“Vậy thì bản đồ đâu có sai. DãyÏ vách đá không thể hiện được chẳng qua do rừng rậm rạp quá máy bay không nhìn thấy”.
Thằng hộ pháp bĩu môi:
“Quan niêu, ngồi trên máy bay mà dám vạch đường ở dưới đất, rõ thật quan niêu “..
Chiều hôm đó trở về chỗù trú quân, ông toán trưởng đồng ý cho bọn tôi dốc gần hết bao gạo nấu một nồi cơm thật to ăn một bữa thật no. Thằng cấp dưỡng bày ra trên tấm vải nhựa trải dưới đất một đĩa muối rang và một nồi rau rừng:
“Chịu khó ăn nốt bữa nay, mai tới bản tao mua gà”.
Thằng hộ pháp ngoạm một miếng vẹt cả bát cơm, trợn mắt:.
“Mày phải nuộc riêng cho mỗi thằng một con. Rồi thì cứ để nguyên chẳng cần chặt chiếc gì hết, cứ cầm tay mà gặm “.
“Được rồi, tao sẽ cho mỗi thằng một con trâu luộc cả con”.
Mới chập tối học giả đã đốt lửa hí hoáy viết. Dưới ánh lửa, mặt nó sáng hẳn, mắt ngời ngời. Nó lại viết thư cho cô nàng búp bê, hy vọng mai gửi qua bưu điện cùng với cả tập dày đã viết kia. Chữ nghĩa đâu ra lắm thế? Vả lại nơi xó rừng này còn chuyện gì mà viết? Tôi nhớ ra từ bé, tôi chẳng viết thư cho ai và cũng chẳng nhận được thư ai. Thằng hộ pháp và thằng cấp dưỡng đôi khi còn được một lá khi có thằng liên lạc từ Ban chỉ huy tìm tới nơi chúng tôi đóng quân.
Người nhiều thư nhất vẫn là thằng học gỉa cứ mỗi lần ông toán trưởng nhận điện báo tin có liên lạc sắp lên, nó lại bồn chồn suốt ngày, cứ ra đầu núi ngong ngóng. Có lần thằng liên lạc định trêu thằng họe giả, vừa lóp ngóp bò lên chỗ lán bọn tôi nó đã kêu to: “Thư báo đây, thằng nào có ra mà nhận”. Tất nhiên thằng học giả nhảy ra trước tiên, nhưng thằng liên lạc quay lưng đi. Thằng cấp dưỡng được một thư, thằng hộ pháp hai thư, còn tôi một xấp báo. “Thế còn tao? “ - thằng học giả tái nhợt như người trúng gió. “Mày không có” Giọng thằng liên lạc tỉnh bơ. “Sao lại không có? “ “không có là không có chứ sao? “ “Vô lý, ba tháng nay mày mới lên, ít nhất tao cũng phải có ba thư”. “Nhỡ ra người yêu mày đi lấy chồng rồi, thôi không viết nữa, mày bắt bò tao sao? “. Thằng học giả như bị một quả đấm vào tim, mặt đờ ra ngây dại rồi lẳng lặng lên giường đắp chăn, bỏ cả bữa ăn tươi buổi chiều. Tôi kéo thằng liên lạc ra hỏi:
“Có thật thằng học giả không có thư không? “.
Nó nhe răng mà cười:
“Tao đùa vậy thôi, con kia viết cho nó cả đống”.
Tôi giật cái xắc cốt đeo trên vai nó:
“Thằng của nợ, mày đùa ác thế bằng giết nó”.
Rồi tôi nhảy vào lán, lật chăn, lôi bật thằng học giả khỏi giường:
“Dậy, dậy, thư của mày đây”.
Chao ôi, đứng nhìn nó ôm trong lòng tập thư cô nàng búp bê thì mới hiểu được rằng với nó trên đời nàykhông có một thứ vitamin nào bổ hơn những lá thư của người yêu.
Ôâng toán trưởng cho gọi riêng tôi tới chỗ ông nằm. Thôi chết, ông lại sắp “bồi dưỡng” tôi làm “lớp kế cận” ông đây. Tôi ngán cái chuyện đó quá nhưng vẫn phải tới.
“Đêm qua ai bắn súng?”
Tôi nhớ lời quy định của ông, chỉ thằng cấp dưỡng mới được sờ tới cây súng và cũng chính nó bắn chứ ai. Tôi trả lời:
“Thằng cấp dưỡng bắn”
“Nó bắn cái gì vậy?”
“Nó bắn... con nai, nhưng trượt”..
Ôâng cau mày nhìn tôi chòng chọc:
“Đỉnh núi đá lấy đâu ra nai? Cậu bao che cho nó phải khôn g?”
Tôi cảm thấy ông đã biết rõ mọi chuyện, quái thật,. lúc đó ông ngủ, làm sao biết được, chẳng lẽ ông có ma xó. Đấy, làm toán trưởng khó vậy đó, phải nắm vững mọi chuyện xảy ra ngay cả lúc mình ngủ.
“Tại sao nó bắn thằng hộ pháp?”
Tôi giật nảy người một cách rất thành thực:
“Không có đâu, đời nào có chuyện đó.”
“Cậu không thấy tai thằng hộ pháp bị toác ra đấy ư?”
Tôi cãi bay cãi biến rằng đó là tại nó ngã dập tai vào đá, rằng hai đứa thân nhau lắm, đêm qua về khuya chúng nó còn bá vai nhau tỉ tê thân mật, rằng không thể có cái chuyện bắn nhau tày trời kia được... Ôâng toán trưởng thừa biết tôi nói nhăng nói cuội, nhưng trái với tôi tưởng, ông không giận dữø như mọi khi, ngược lại, ông ngạc nhiên: “Ngày xưa, nếu như tôi được một cơ hội như cậu, tôi phải chớp ngay lập tức.”
Tôi tỏ vẻ không hiểu ông định nói gì, ông liền cười nhạt:
“Này, tôi hỏi thật cậu, cậu định cứ làm thằng thợ phát rừng cả đời như thế này sao?”
“Bấc đến đâu dầu đến đấy...”
Tôi vọt miệng ra cái câu nói cửa miệng của thằng học giả vẫn nhồi nhét vào tai tôi mỗi lúc nó lên cơn lảm nhảm.
Ôâng toán trưởng tròn xoe mắt:
“ Bấc với dầu gì?”
Tôi vội lấp liếm là không có gì, tôi chỉ muốn nói là tôi tuyệt đôi tin tưởng ông, giao nhiệm vụ gì tôi cũng làm, khó khăn mấy tôi cũng vượt qua, riêng có cái việc “nắm tình hình tư tưởng anh em”, tôi thấy khó quá. Nghe xong, ông tươi mặt, cười xòa:
“Tôi hiểu cậu rồi, tinh thần chấp hành như thế là rất tốt còn cái việc kia, tôi cũng hiểu cậu rồi, cậu lo không đủ trình độ lý luận chứ gì? Cậu khỏi lo, lý luận tốt nhất là được đúc rút ra từ thực tiễn, vừa làm vừa học, rồi tôi sẽ hướng dẫn cho cậu. Ấy đấy, ngày xưa còn tuổi thanh niên, tôi cũng tự ti như cậu đấy. Thế rồi may mắn cho tôi, tôi cũng gặp được một ông Đội trưởng quý mến tôi, quyết đào tạo bồi dưỡng như tôi đối với cậu bây giờ.”
Tôi nóng bừng cả mặt, cảm động rưng rưng, cứ ngồi im nghe ông nói.
“Con người ta hơn con thú ở chỗ có hoài bão, suốt đời kiên trì theo đuổi cái hoài bão đó, thắng không kiêu, bại không nản...”
Rồi ông kể tôi nghe ngày xưa ông đã phấn đấu gian khổ thế nào, từng bước từng bước ông đã tiến bộ ra sao, ông kể hết, riêng cái chuyện ông “kèm cặp” bà Trưởng phòng để đến nỗi ông văng mất cả chức thì ông dấu biến. Khổ một nỗi, ôøng nói gì ông cứ nói, đầu óc tôi cứ quanh quẩn mỗi cái chuyện ông không nói ra đó. Tôi mường tượng ra thằng bé người ta móc ra từ thùng giấy loại trong hố xí ấy, nó có cái mũi khoằm khoằm, cái miệng mong mỏng giống ông không? Trong cái đêm đông lạnh này, nó có ngồi bên mẹ nó canh hai chảo nước lớn bên bếp lửa bập bùng thường thấy trong những công trường làm đường nơi miền núi heo hút? Lạy trời đừng ai kể cho nó biết nó đã ra đời như thế nào, mang nặng ám ảnh kinh hoàng vậy, nó sẽ yêu thương hay thù oán mẹ nó? ôi người đàn bà khốn khổ, chị đã nhỏ bao nhiêu giọt nước mắt cắn dứt vì sự dại dột của mình trước những miệng lười cay độc của người đời.
“Thua keo này ta bày keo khác cậu ạ...”
Tôi nhìn ông trừng trừng và không tin ở tai mình nữa? Ôâng định bầy cái “keo” nào đây? Ngoài cái chức đã mất, trong cái keo mới này, liệu có chỗ nào giành cho người đàn bà và đứa bé mà ông làm khổ?
“Thưa bác, bà trưởng phòng dạo trước ấy giờ đâu rồi?”
Lời nói của tôi như con ong đốt cổ ông, nọc nó chạy khắp người làm ông run bần bật:
“Làm sao, làm sao anh biết chuyện đó?”
“Thằng bé vẫn còn sống chứ?”
“Đi đi anh đi đi, đó là chuyện nội bộ, không dính dáng gì tới anh...”
Than ôi, ông lại hiểu nhầm tôi nữa rồi, tôi không hề muốn moi móc, tôi chỉ muốn biết số phận của người đàn bà và cháu bé. Tuy nhiên cơn nổi nóng của ông không cho tôi được giải thích với ông chuyện đó. Đầu óc ông méo mó quá. Than ôi, ông lại hiểu nhầm tôi nữa rồi, tôi không hề muốn moi móc, tôi chỉ muốn biết số phận của người đàn bà và cháu bé. Tuy nhiên cơn nổi nóng của ông không cho tôi được giải thích với ông chuyện đó. Đầu óc ông méo mó quárồi, người ta chìa ra cho ông một bàn tay thông cảm, ông lại nhìn thấy nó nắm một con dao. Tôi không giận ông, chỉ áy náy đã phụ lòng ông khi ông muốn làm tốt cho tôi.
“Mày ăn cắp mì chính, bị thủ trưởng bắt gặp hay sao mà ông ấy hét toáng ìên thế?”
Thằng học giả đón tôi với nụ cười mỉa. Cả mấy thằng vẫn còn ngồi quanh đống lửa bàn tán ầm ĩ về cái bản Mù U ngày mai chúng tôi sẽ đặt chân tới. Cái đói toàn diện đã biến cái bản nhỏ u tỳ thành một thành phố hoa lệ như Paris của nước Pháp.
“Rượu thì nhất định là có rồi. Chúng mày phải biết cái loài nếp lạnh, ngâm gạo sống với men của người Mán nom cứ như sữa vậy, uống vào là say tít cung thang...”
Thằng học giả chờ cho mấy đứa uống xong cái món rượu nếp lạnh” rồi mới đưa ra món khác:
“Còn cái kiểu tắm của tụi nó thì vua chúa cũng phải chịu, bồn tắm đục bằng gỗ nguyên cây, một thằng hộ pháp với một con vợ thằng xã đội nhảy vào vùng vẫy còn rộng chán, thế rồi ống bương dẫn nước từ ngọn suối chảy xuống chảy qua một cái thùng khuy đun sôi sùng sục, nước trong bồn lúc nào cũng nóng vừa đủ tha hồ anh chị kỳ cọ cho nhau...”
Thằng hộ pháp từ nãy bó gối ngồi nghe, giờ mới bật cười:
“Mẹ cái thằng ma xó này, đi guốc trong bụng tao, đúng tao đang nghĩ tới con mẹ ấy đây. Lạ thật, tao ngủ với bao nhiêu đứa mà chỉ nhớ một mình nó. Đêm nào tao cũng nghe tiếng nó gừ gừ bên tai: “Ối anh ơi, anh đang nàm gì em đây? “ Nó bắt tao trả lời bằng được, rồi lại hỏi nữa, mỗi câu ấy thôi, mà mỗi lần phải trả lời mỗi cách. Giờ ước gì nó bỏ ûđược thằng xã đội tao cũng bỏ ngay lão toán trưởng chuồn về cưới nó làm vợ”.
Thằng học giả khích nó:
“Trai tráng như mày, dời núi lấp biển thì mới khó chứ, mơ ước có một con đàn bà thì quá dễ.”
“Dời núi lấp biển ăn thua gì, cho tao con vợ thằng xã đội tao lên rừng bắt voi tay không cũng được. Nhưng mà khó lắm chúng mày ơi, thằng xã đội nó có súng, tao thò mặt về xóm nó bắn chết tươi”.
Rồi nó thở dài đánh sượt, tôi nghe cũng phải nẫu ruột:
“Thằng chồng nó là thằng chó đẻ, nó hè anh em nhà nó trói con kia vào chân giường, lột quần áo rồi cứ đùi non con kia nó vừa cặp kìm vừa tra khảo:
“Sướng chưa? mày sướng chưa? Mày ngủ với thằng đó bao nhiêu lần? Ơ những đâu? Khai mau không chết...” Mẹ kiếp, tao mà chứng kiến cảnh đó, tao nhai sống thằng xã đội...”
Nó nghiến răng ken két rồi lại cười hềnh hệch:
“Đánh thế chứ đánh nữa cũng chẳng nhằm nhò gì, cứ mỗi lần tao về, nó lại tìm đủ cách đến với tao. Kỳ phép vừa rồi, tao vừa đặt chân xuống bến ô tô phố huyện thì bỗng đổ mưa như trút, xung quanh trốn sạch cả, tao còn đang khoác nylông đứng giữa trời, giữa bến xe ngơ ngơ ngác ngác như quạ vào chuồng lợn thì bỗng từ quán ăn đằng xa có một em ướt như chuột lột, chạy tới, chui tọt vào nylông của tao. Trời ơi, tưởng ai hóa ra con vợ thằng xã đội, nó cứ run cầm cập, ôm lấy tao khóc rưng rức: “ối anh ơi, anh bỏ em đi đâu cho em khổ thế này? “. Tao càng dỗ, nó càng khóc to, hai quả dừa của nó cứ đè chặt lấy ngực mình, nóng ran khắp người. Mưa lại ào ào mỗi lúc mỗi to. Biết làm sao giờø, tao đành buông cái ba lô trên vai xuống, rồi cứ đứng thế ma øcuốn chặt lấy nhau như bện thừng, may có miếng nylông trùm kín hết chẳng sợ ai nhìn thấy. Chưa giập bã trầu, nó đã dãy lên đành đạch, miệng gừ gừ: “ối anh ơi, anh nàm gì em thếâ này...”
Tôi cười phát sặc:
“ Rồi mày trả lời nó làm sao?”
Thằng học giả chen ngang:
“Nhốt con quỷ sứ vào cái địa ngục, nhốt con quỷ sứ vào cái địa ngục...
“Ha ha... ha ha... ha ha...”.
Chờ cho tan cơn cười, tôi mới hỏi nó:
“Như hai con ngựa vía thế thì sung sướng cái nỗi gì?”
Thằng hộ pháp trợn ngược mắt:
“ấy thế mà tan cơn mưa rồi tao vẫn chưa rời được nó ra. Trò đời là thế, ăn khó mới ngon. Đêm hôm đó, tao nhớ nó quá, tao đánh liều mò đến đứng ngay hàng rào dưới cửa sổ nhà nó, đánh lưỡi: “Tắc tè... tắc tè”. Tao đoán chắc mật hiệu của tao thế nào cũng lọt vào tai nó nhưng đêm hôm, khó mà lừa được thằng xã đội để ra với tao. Tao cứ nằm phục trong đám cây dâm bụt chờ mãi, chờ mãi. Quả nhiên một chặp sau trong buồng có tiếng đánh diêm, tiếng thằng chồng gắt: “nửa đêm rồi còn đi đâu, tiếng nó rấm rẳn:
“đau bụng phải đi chứ, hỏi vớ vẩn”.
Thế rồi dưới ánh trăng suông, tao nhìn thấy nó mặc mỗi cái quần đùi với cái áo lót, người cứ trắng lôm lốp đi về phía nhà cầu. Ngay đêm đó nó rủ tao: “Trốn đi anh ơi, anh mang em trốn đi, đi đâu cũng được cực khổ mấy cũng chịu, còn hơn sống thế này.”
“Nhưng biết trốn đi đâu bây giờ? Trốn ở đâu thì rồi cũng phải có hộ khẩu, có đăng ký kết hôn, nếu không chỉ ba ngày sau là thằng xã đội nó móc ra ngay. Tao nghĩ nát cả óc không ra, hết phép thôi đành dứt áo, khoác ba lô ra đi, chỉ còn biết thường nó đứt ruột đứt gan...”
Nó buông một tiếng thở dài kết thúc câu chuyện tình khổ đau. Tôi phải quay đi không dám nhìn cái dáng ngồi thiểâu não của nó, tôi vốn quen thấy nó trong cái lốt con voi đực xông xáo, chân tay chẳng lúc nào chịu yên, miệng luôn luôn cười hềnh hệch, ấy thế mà lúc này nó rũ xuống như một cái bánh da nhúng nước. Ôi cái làng Mù U, nơi phồn hoa đô hội” của chúng tôi kia mới chỉ hiện ra lờ mờ trong làn sương chiều, vậy mà đã làm thổn thức tới cả một con voi dực như thằng hộ pháp. Cuộc sống sẽ hồn nhiên, vô tư biết bao một khi chỉ có năm người chúng tôi mãi mãi sống nơi hoang dã này...
MƯỜI HAI
Dấu hiệu đầu tiên của xã hội con người chúng tôi bắt gặp dẫu rằng chỉ là một bãi phân trâu khôn cũng đủ làm cho thằng hộ pháp mừng quớ lên, làm tôi bồi hồi, còn thằng học giả buông một câu triết lý: “Không có cái gì dính dáng đến con người mà lại không làm tôi chú ý” rồi cứ đứng đực ra trầm ngâm mãi khiến tôi phải quát lên:
“Phát đi chứ, mày định nghiên cứu cứt trâu khô đấy hả?”
“Sao không? Nếu nó có thể nói lên một điều gì đó v về con người. Mày xem đây có phải nó gồm nhiều loại xơ của nhiều loại cỏ và cây khác nhau không? Điều đó chứng tỏ trâu được chăn thả tự do chứ chưa có chuồng trại tập thể.”
“Vậy đã sao?”
“Không sao, nó chỉ chứng tỏ trình độ tổ chức sản xuất ở đây chưa cao.”
“Thôi bố...”.
Tôi lại đành phải quát lên cho nó buông cái mớ chữ nghĩa của nó ra để cầm lấy con dao cùng với tôi phát cái đám tre gai bùng Ïnhùng này đi. Trong cái nghề của bọn tôi “mồm miệng” không thể đỡ “tay chân” được, cứ phải xấn tới phát thật lực nếu không muốn đứng ỳ ra giữa rừng cây.
Bởi vậy ông toán trưởng đãù rất khôn ngoan khi xếp thằng học giả luôn luôn đi đầu để phía sau tôi và thằng hộ pháp thúc vào lưng nếu không nó sẽ tụt lại phía sau lảm nhảm làm sốt ruột đến eả ông toán trưởng vốn kiên nhẫn nhất. Thằng hộ pháp ngược hẳn lại, một khi đã cầm con dao vào tay đố có cạy răng lấy nửa lời, nó cứ phát hùng hục cho tới khi ông toán trưởng thổi còi mới dọn sơ một vạt bằng, quăng dao nằm ngửa ra thở. Có lần như thế, tôi chỉ lên trời hỏi nó:
“Tao đố mày đám mây đang trôi qua kia giống hình cái gì?”
“Hình cái con cặc... Mệt bỏ bố, nằm mà nghỉ còn hỏi rắc rối.”
Dĩ nhiên tôi không giận nó, tôi cứ nhìn theo đám mây có lúc giống như một con ngựa đang hí rung cả bờm nhưn g cái miệng lại mím thật chặt, có lúc lại thấy như có cả đoàn người đang dắt díu nhau lên trời. Tuy nhiên, cũng có lần tôi đang sướng run lên sắp tìm được một hình ảnh lý thú, tiếng còi ông toán trưởng lại toét lên, xua cả đám mây Iẫn sự tưởng tượng về nó bay di mất. Đương nhiên trong việc này không ai có lỗi cả. Ông toán trưởng có nhiệm vụ thổi còi, còn tôi chỉ ngắm trời vào ngoài giờ sản xuất. người có lỗi chỉ là thằng học giả, vừa phát cây nó vừa lẩm bẩm:
“o khó là cái cửa sổ... o khó là cái cửa sổ...”
Tôi biết thừa nó đang học tiếng Nga, nó bảo một ngày phải học mười từ trong lúc đi làm, tôi mặc kệ nó, chỉ có ông toán trưởng đôi lúc cằn nhằn: “Cậu phải làm việc với cả hai bàn tay và khối óc chứ. Như vậy sao gọi là toàn tâm toàn ý phục vụ sản xuất được”.
Những lúc đó, nó tím mặt lại, nín lặng, chẳng biết nó nghĩ gì Thằng hộ pháp xui nó: “Mày cứ nhẩm trong bụng thôi, ha hồ muốn học gì học, thánh cũng chả biết. Rồi nó tắc lưỡi: “Mày học làm gì, càng học càng thành dở người như mày thì học làm gì, cứ ngu như tao lại khỏe”. Tôi phải công nhận rằng lâu lâu thằng hộ pháp cũng nói được một câu chí lý. Tôi cũng rất ghét học hành, sách vở lắm khi chỉ làm méo nó đầu óc, cái gương thằng học giả càng làm tôi ghê sợ chữù nghĩa. Những kiến thức người ta nhồi nhét cho tôi suốt trong những năm buồn tẻ và dài dằng dặc ở trại mồ côi, tôi đã trả lại hết cho thày ngay từ khi ra trường. Cũng bởi vậy ông toán trưởng có thể phát động đủ các phong trào, trừ ra mỗi việc bắt bọn tôi đóng vở học văn hóa để thằng học giả dạy.
“Bắt cóc bỏ ớ a còn dễ hơn bắt chúng mày ngồi làm toán”, nó than vậy rồi xin với ông toán trưởng dẹp bỏ cái trò học hành ấyr đi. Thằng hộ pháp thì nói toạc móng heo: “ học thế này chẳng qua lấy thành tích cho mày và ông toán trưởng thôi, bọn tao được cái gì? “ Từ đó không ai nhắc tới chuyện đó nữa. Xế chiều, khi mặt trời đang chới với khuất sau những đỉnh núi xam xám, thằng hộ pháp đi trước bỗng nhảy cẫng lên:
“Tới dường mòn rồi, tới đường mòn rồi chúng mày ơi...”
Tôi vội vàng bỏ cả bụi mây gai đang phát dở, luồn người lên trước. Quả thực cắt ngang tuyến chúng tôi đang đi là một con đường nhỏ xếp đá, cây hai bên phát quang, ven đường xếp những khúc gỗ bào nhẵn chắc làm ghế ngồi nghỉ cho người bộ hành. Tất cả những thứ đó hẳn đều do bàn tay con người làm ra và điều đó bỗng làm tôi mừng rỡ như người xa quê đột ngột được trở về nhìn lại ngôi nhà thân thuộc. Tôi quăng dao nằm ngửa ra, dang tay dang chân trên con đường lổn nhổn đá, ngửa mặt lên nhìn bầu trời xám ngắt, một con chim lẻ loi bay ngang và cảm thấy rất rõ những nhọc mệt đang tan nhanh trong mạch máu. Thằng hộ pháp sục sạo trên đường, lát sau nó xách về một cái rỏ tre cũ nát:
“Đúng con đường này dẫn tới bản Mù U rồi các bố ạ. Cái rọ này dùng để đựng măng tre chặt trên rừng gánh về nhà đây mà. Không biết sao lại vứt đây?”
Thật buồn cười, cái máu “điều tra” của thằng học giả không khéo đã nhiễm sang cả thằng hộ pháp, nó tần ngần đứng giữa đường, quay ngược quay xuôi:
“Đằng này về đâu? Đằng kia về đâu?:
“Một đằng lên núi, một đằng xuống biển”.
“Không, tao muốn hỏi nó đi về cái xã, cái huyện nào kia?”
“Xã Lông Bông, huyện Lang Bang, nước U tỳ...”
“Quê quán mày đó phải không thằng mồ côi kia?”
Tôi biết nó sắp nổỉ cáu vì làm nó cụt hứng muốn dẫn câu chuyện về cái xã có cô vợ ông xã đội của nó. May thay, ông toán trưởng đã đi tới:
“Theo đúng bản đồ, ta chỉ còn cách bản Mù U ba cây số nữa thôi”.
Thằng hộ pháp nhảy lên:
“Đề nghị thủ trưởng cho em tới đó trước”.
“Không được, cấm không ai được đi lẻ. Phải quay về chỗ trú quân, hội ý chuẩn bị trước khi vào bản”.
Buổi tối, ông họp bọn tôi, sau khi thuyết rất dài về yêu cầu “Đi dân nhớ, ở dân thương”, ông nêu ra tám điều kỷ luật, thí dụ như không được lấy của ai từ cái kim sợi chỉ, không được trêu chọc phụ nữ, không được đi giày vào nhà theo đúng tập quán địa phương... Quả thực những điều ông đề ra thừa đủ cho cả một đạo quân tiến vào giải phóng một thành phố lớn. Thằng hộ pháp từ chiều đã kiếm đâu ra hai mảm bát vỡ và với cái dụng cụ thô sơ đó, nó đã cạo được gần sạch bộ râu mọc nham nhở khắp trên mặt. Nó cứ ngồi xoa mãi cái cằm nhẵn, giờ mới giơ tay:
“ Tôi xin hỏi nhỡ có cô nào tặng mình cái gì đó thì có được nhận không?”
Thằng học giả nói chõ:
“Tặng thì nhận chớ sao không?”
Ông toán trưởng lắc đầu quầy quậy:
“Không được, không được, thế có loạn, nhỡ ra nó tặng luôn cái thân nó anh cũng đòi nhận sao. Nhất thiết mọi thứ đều phải thông qua tôi”.
Thằng hộ pháp ngồi ngẩn ra, rồi cười hềnh hệch:
“Vậy nếu có đứa thế thật, tôi cũng phải mang cái thân nó đưa thủ trưởng thông qua trước... ?
“Tầm bậy, hết sức tầng bậy...”
Ông toán trưởng đỏ mặt tía tai, lấp liếm cái thẹn bằng một bài giảng dài dòng về quan hệ trai gái. Ông nói rất hùng hồn đanh thép cứ như từ trước nayÏ ông chỉ biết duy nhất có mỗi bà vợ ở quê xa. Thằng cấp dưỡng ngồi cười khảy, mặt cứ khinh khỉnh làm tôi hiểu rằng nó đang nhớ tới chuyến đi công tác năm ngoái với ông toán trưởng. Hồi đó tao phải đi “điếu đóm” cho ông ấy mãi xẩm tối mới tới một xóm lại chỉ có mỗi một cái nhà sàn, trong nhà lại có mỗi một con mẹ đàn bà. Cơm nước xong, bà chủ trải chiếu ra ngay gần bếp cho thầy trò nằm, còn bà ta thì nằm phía trong, cách có mỗi cái màn bằng vải thô. Mới chập tối ông đã giục: “Cậu đi ngủ trước, đảm bảo sức khỏe, tớ còn phải hỏi chuyện bà chủ nhà nắm tình hình. “. Ừ thì ngủ trước có sao, càng khỏe xác. Thế là tao lăn ra ngủ một mạch chẳng còn biết trời đất. Mãi tới nửa đêm, bếp lửa đã tắt, lạnh quá tao mới thức giấc. Xung quanh đèn đóm tắt hết, trời tối như mực, tao bỗng hết hồn vì có cái con gì sang sáng to đằng con gián cứ bò dần bò dần vào phía gian trong. Mẹ ơi, phải con ma không? Tao nhớ mẹ tao vẫn thường bảo không có ma, đi qua nghĩa địa mà thấy ma trơi thật ra là lân tinh trong mả bốc lên nên sáng vậy thôi. Thế là tao đoán ngay ra cái con gián đang bò chính là cái mặt đồng hồ dạ quang của ông toán trưởng. Lát sau tao thấy nó biến mất, rồi lại nghe có tiếng hổn hển bên trong màn, tao mới vỡ nhẽ. Sáng hôm sau ông ấy hỏi tao:
“Đêm qua ngủ ngon không?”
“Dạ ngon lắm, ngủ như chết chẳng biết gì. .
“ấy thế mà có lúc cậu nói mê ghê quá.”
“Dạ cháu nằm mơ đấy ạ, cháu nằm mơ thấy con ma trơi nó cứ bò bò trên sàn nhà.”
Ông ta tím mặt lảng phắt sang chuyện khác cứ như đêm qua không hề có chuyện gì xảy ra. Thằng cấp dưỡng đã kể tôi nghe chuyện này với giọng g
NHẬT TUẤN Đi về nơi hoang dã - Phần 3
NHẬT TUẤN Đi về nơi hoang dã - Phần 5

