Nhà thơ Vũ Từ Trang nhớ lại: “Ngày ấy, Hội văn nghệ Hà Nội làm tập thơ tuyển, nhà thơ Hoài Anh đi tập hợp bài vở. Bài thơ  "Những làng đi qua" của ông chép nhoè nhoẹt, được Hoài Anh mang về in vào tập thơ tuyển. Thế là bài thơ được công bố sau thời gian dài ngủ yên trong sổ tay của ông. Với ông, in hay không in, không quan trọng.  Thú, thì viết. Viết cho mình đọc, là thú rồi. Nhờ sự ngẫu nhiên này, bạn đọc được biết thêm một tác phẩm hay của ông. Bài thơ có rất nhiều câu thần thái. Nó  phác hoạ được Hà Nội những năm kháng chiến với những nét đáng yêu. Tôi hỏi ông với ý muốn được đọc tiếp các bài thơ khác trong sổ tay của ông. Ông cười rất  lành. Ông cũng không có cả cuốn sổ tay riêng để chép thơ. Đôi ba bài thơ được ông ghi lẫn  vào sổ  mua gạo, mua mắm, hoặc sổ ghi công việc cơ quan. Ông lại là người không có thói quen thuộc thơ của mình. Viết thơ, viết hết mình, rồi lại quên đi. Thỉnh thoảng, bạn bè thân có chép lại, hoặc nhẩm thuộc, là lưu lại được. Ông viết văn cũng vậy, cứ dập dập xoá xoá. Viết rất kỹ. Rồi gửi báo, hoặc nhà xuất bản, chứ không lưu giữ cho mình bản nào”

Trong “Tô Hoài nhìn từ khoảng cách gần”, Vương Trí Nhàn không ít lần đưa ra những nhận xét khái quát kiểu “Có lẽ với cả cuộc đời này cũng vậy, Tô Hoài đâu có yêu”, “Tô Hoài không thật yêu một con người nào, một kiểu tính cách nào. Các loại nhân vật chỉ để vẽ phác, và đều nham nhở. Nhân vật không có những khát khao lớn. Nhân vật không có cái đắm đuối như các nhân vật của Nguyên Hồng”. Vậy mà, trước đấy, trong bài “Tô Hoài và những nghiêm chỉnh của kiếp phù du” (sách “Cây bút đời người, NXB Trẻ, 2002), nhân so sánh cuốn tự truyện “Cỏ dại” của Tô Hoài với cuốn tự truyện “Những ngày thơ ấu” của Nguyên Hồng, Vương Trí Nhàn từng đưa ra nhận xét rằng “Phải một ngòi bút tự tin lắm mới dám đưa chuyện đó lên mặt giấy. Nhất là đưa ra sao khiến khi đọc, người ta có thể cảm động đến ứa nước mắt thì chỉ loại Tô Hoài, Nguyên Hồng mới làm nổi”. Không thể tin được một người từng có tác phẩm gây hiệu ứng đối với độc giả thế này lại là mẫu người hờ hững với cuộc đời “không thật yêu một con người nào, một kiểu tính cách nào” và các nhân vật “không có những khát khao lớn”, nhất là khi đó lại là cha đẻ của “Dế mèn phiêu lưu ký”.

Chuyện ở Hội Văn nghệ Hà Nội, báo Người Hà Nội. Bằng Việt kể: Ông Triệu Bôn có vẻ vùng vằng, nghĩ rằng mình đi vắng 2 tuần, ở nhà báo sẽ chẳng ra sao. Ai ngờ, cũng xong. Tô Hoài mủm mỉm cười, làm tuốt. Bùi Bình Thi kể về thái độ chịu chơi của Tô Hoài. Tô Hoài đang có chuyện gì đó làm mọi người bực ra mặt. Văn Linh cáu. Muốn xin lỗi, thừa lúc Văn Linh quay ra phía khác, Tô Hoài thò tay bắt tay Văn Linh từ phía sau, nắm thật chặt. Văn Linh có cáu mấy cũng đành đặt tay mình trong tay Tô Hoài. Nguyễn Minh Châu: Tô Hoài bao giờ cũng có xu thế muốn làm vừa lòng người nói chuyện với mình. Hễ mình nói cái gì động chạm là lão chuồn ngày, lảng sang chuyện khác ngay.

Vĩnh biệt Nhà thơ - Nhà báo NGUYỄN TRUNG BÌNH


[Vào lúc : 21:28 - 10/12/2009 | Chuyện mục : Tư liệu văn nghệ sĩ]

Lúc 17h10 chiều nay 10-12-2009 tại bệnh viện 175 – TPHCM, nhà thơ – nhà báo Nguyễn Trung Bình đã qua đời đột ngột do bạo bệnh, hưởng dương 42 tuổi. Linh cữu sẽ được chuyển về quàn và an táng ở quê nhà, làng Long Phước, Nam Phước, Duy Xuyên, Quảng Nam. Nhà thơ – nhà báo Nguyễn Trung Bình sinh ngày 10/5/1968 tại thị xã Hội An. Anh là Hội viên Hội nhà văn TPHCM, là đồng kịch bản lời thoại với Trần Anh Hùng trong phim Cyclo - giải Sư tử Vàng tại liên hoan phim Venise 1995. Anh từng có một tác phẩm in chung với ba người bạn mang tên “Miền mây trắng” - NXB Đà Nẵng1994 và tập thơ riêng “Bài của trẻ dáng nâu” – NXB Văn nghệ TP.HCM 1996. Tiễn biện một cây bút đoản mệnh, lethieunhon.com xin giới thiệu lại 3 bài thơ mà nhà thơ Nguyễn Trung Bình đã viết trong những ngày đang chống chọi với căn bệnh nan y bằng tâm trạng “lâu rồi mới thấy sương mờ giăng tràn ngõ phố”

Vũ Quần Phương kể: Ông ấy khôn lắm, không có cái gì bỏ qua, nhưng không dính vào việc gì cụ thể cả. “Lúc nào cần vắng thì tôi vào viện. Ở tuổi tôi thiếu gì bệnh để nằm viện”. Chính ông ấy nhận như thế. (Bùi Bình Thi có lần nói: Tô Hoài như một con rán, đặc biệt nhạy cảm với mọi tình thế.) Cơ quan có cô N. làm văn phòng. Ông Tô Hoài dùng nó, nể nó. Đùng một cái, nó xin vào Hội. Anh em thấy chuế, ông Tô Hoài cũng thấy chuế. Cho nó vào thì ra làm sao nữa. Có người như Bằng Việt nói thẳng, thôi N. ơi chờ chút đã, để bọn này viết cho N. mấy cái truyện hoặc mấy bài thơ rồi ký tên N. đã, N. hãy vào. Nhưng N. nó không chịu. Đến ngày Ban chấp hành bỏ phiếu thì ông Tô Hoài vắng một cách cố ý. Ấy, ông cứ sợ một đứa khùng dại như vậy để rồi có lúc ông coi thường cả một đại hội.

Gặp miền ký ức khi Ra Ngoài Ngàn Năm


[Vào lúc : 15:29 - 10/12/2009 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]
Trong thế giới của ký ức, nhà thơ trước hết hướng về những gì thiêng liêng, gần gũi, là mẹ, là cha, là bà, là đồng đất quê hương “thơm thao bùn đất”, là những “hoa sữa tuổi mười lăm” - kỉ niệm của tình yêu… Những ký ức ấy tươi nguyên trong trẻo ấy, giúp nhà thơ thăng bằng trong cuộc đời, nhưng lại luôn dễ nhắc người ta những gì mất mát, khó tìm lại được. Và cũng chính vì thế, mà ký ức luôn được nâng niu, trở thành quý giá nhất. Rồi chính nó lại cất lên tiếng nói, để nhắc nhở hiện tại … Những ký ức trong thơ Trương Nam Hương, hẳn nhiên là những ký ức của riêng cuộc đời tác giả, nhưng khơi gợi, dễ chạm đến phần thẳm sâu nhất của tâm hồn người khác.

Mở tập thơ nhỉnh hơn lòng bàn tay với chữ thư pháp rất đẹp, với các tiêu đề: :”Lục bát lên đồng” kèm chú giải “Chữ mới giọng xưa - HTX thơ Hồn Rơm - Phụ bản chép tay - Véo ra trong điệu ru của mẹ”.  Tôi giật mình đưa mắt tìm tác giả thì ông đã xách chiếc bị cói đi đâu mất. Người này điên chăng? Hay là thần kinh có vấn đề gì chăng? Đã thế bìa lại vẽ một con trâu đang tắm chua thêm dòng chữ “Cho xuân Kỷ Sửu”. Phía sau còn nghộ nghĩnh hơn nhiều: HTX thơ thủ công Hồn Rơm (Gớm nữa, lại có cả thơ thủ công, thơ mậu dịch, thơ nhà máy?) Tiếp đó như là giới thiệu trích ngang và ngành nghề của mình: “Chuyên chế tạo ca dao/Sản xuất thơ sạch/Nguyên liệu cổ truyền/Ngôn ngữ dân gian/Bền cùng trí nhớ/Kiểu dáng độc nhất/Chữ nghĩa gì nhất/Giọng điệu ấy nhất/Độc giả lạ nhất/Giá bất đồng nhất”.  Tiếp đó, ngài còn kẻ một cái khung trông như chiếc quan tài nghoệch ngoạc mấy chữ “Thơ chui cấm đọc trộm”, phía dưới kèm thêm dòng chữ “Không bán chỉ mừng tuổi thơ. Người yêu thơ mừng 21.686 đồng ; Người chán thơ mừng 12.868 đồng”. Và kèm theo đó là một cái dấu đỏ chót hình vuông chắc chỉ Văn Thùy mới đọc nổi. Một bạn văn nghệ không biết tên ghé sang vì tò mò thốt ngay hai tiếng: Điên rồ!

Một cuộc đời chắt chiu một THAO THỨC


[Vào lúc : 16:25 - 08/12/2009 | Chuyện mục : Chuyện làng văn nghệ]
Có lẽ khi chưa đọc tập “Thao thức”, ít ai nghĩ rằng nhà bác học, giáo sư - bác sĩ Tôn Thất Tùng năm 1948 đã từng làm một bài thơ “Nhớ về Hà Nội” bằng tiếng Pháp (En se souvenant de Hanoi) khá hay và xúc động. Đây cũng là nét độc đáo trong cách chọn lựa thi phẩm để chuyển ngữ của dịch giả Minh Mỵ. Người đọc sẽ càng ngạc nhiên, thú vị với phần Tạp văn (Những mảnh ký ức và Ghi chép). Là nhân chứng lịch sử một thời đầy biến động, bằng giọng văn điềm tĩnh, thâm trầm, tác giả tái hiện lại một cách sinh động đời sống chính trị, kinh tế, tập quán xã hội… những năm 30- 40 của thế kỷ XX. Đặc biệt, thông qua “Salon văn học Tuyết Chi” và mối thâm giao với các bậc tài danh, tác giả khắc họa lại chân dung rất đời thường của Lan Khai, Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Thanh Châu, Ngọc Giao, Hồ Dzếnh, Song Kim, Huy Cận, Xuân Diệu… hay kể về những người thân trong họ tộc như bà Bính (chị họ- vợ cố GS Hoàng Xuân Hãn), bà Khuê (cháu ruột- vợ cố thi sĩ Trần Dần) bằng những mẩu chuyện có lẽ chưa từng có trong văn học sử…

Tập thơ song ngữ “Đắng và ngọt”  của Trang Thế Hy vừa được NXB Thanh niên phát hành đầu tháng 12/2009, với phần tiếng Anh của dịch giả Nguyễn Tiến Văn. Cũng có những ý kiến riêng lẻ cho rằng ông là một trong 5 nhà văn lớn nhất của Nam bộ thế kỷ 20. Riêng nhà văn Nguyên Ngọc thì nhận xét: “Trang Thế Hy là người chăm chút đi tìm những cái đẹp nhỏ nhoi, lẩn khuất, bị bỏ quên, hoặc ở trong những góc hẻo của cuộc đời, hoặc bị vùi trong bùn đất của nghèo khốn”. Ngoài văn xuôi, Trang Thế Hy làm thơ rất ít, cả sự nghiệp thơ của ông chỉ khoảng 15-20 bài, tập mỏng này đã khá đầy đủ. Trong “Lời cuối sách” của tập thơ, Trang Thế Hy viết: “Nhan đề chung cho cuốn sách mỏng này do người biên tập chọn để tỏ lòng thiện cảm với cái nhan đề gốc của bài thơ Cuộc đời. Tháng 9/1959, người chủ biên tuần báo Vui sống (Sài Gòn), nhà văn Bình Nguyên Lộc, khi duyệt bài vở cho tờ báo số 9, đã góp ý với cộng tác viên Minh Phẩm, người đã nộp bài thơ Đắng và ngọt, rằng cái vị của cuộc đời này nó đa dạng và phức hợp lắm chứ không đơn giản như sự nhu hiền đồng thuận tạo hài hòa hay ngạo mạn đương đầu gây đối nghịch giữa hai cái vị đắng và vị ngọt”.

Sự tưởng tượng trong thế giới thơ Nguyễn Bình Phương đầy sức cuốn hút, nó mở ra những cảm giác lạ tồn tại ngay bên cạnh cuộc đời phàm tục của con người. Qua cánh cửa là đôi mắt, mặt trăng thực hiện cuộc lãng du của mình xuyên qua giấc ngủ, cuối cuộc hành trình của mặt trăng, nó "gặp một ban mai bàng bạc". Và cũng ở đó, nữ sĩ Hồ Xuân Hương "dựng nhà bằng những cơn mưa". Trong sự hồi tưởng, ta thật khó tìm được hình ảnh nào độc đáo đến phi lôgic, nhưng cũng thật mạnh mẽ và trang nghiêm, bằng hình ảnh "Sông Hồng đê mê hoá một nén hương/ Dẫn ý nghĩ vào nơi chưa hề biết". Cùng với việc dụng công trong việc tìm kiếm các hình ảnh thơ, ý tưởng thơ, sự kỹ lưỡng trong việc chọn từ ngữ và hoàn tất kiến trúc từng câu thơ cho tới toàn thể bài thơ, thì việc đặt tên cho từng bài thơ cũng được nhà thơ Nguyễn Bình Phương dành một sự dụng công đặc biệt.

Phân trang 160/308 Trang đầu Trang trước 155 156 157 158 159 160 161 162 163 164 Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]

Những bài mới nhất