Về phương thức biểu hiện, do một bài thơ chỉ gồm 17 âm tiết nên các thi sĩ haiku thường bắt đầu từ những điểm nhìn đơn lẻ, chớp lấy một khoảnh khắc có thần của thực tại, đẩy lên đỉnh điểm của cảm xúc và sáng tạo theo nguyên lý mùa và tính tương quan hình ảnh. Trong một bài thơ haiku thường có một hình ảnh lớn (vũ trụ) tương xứng với một hình ảnh nhỏ (đời thường). Haiku không mô tả cảm xúc mà chủ yếu ghi lại sự việc xảy ra trước mắt. Nhà thơ ít dùng tính từ và trạng từ làm hạn chế sự tưởng tượng của người đọc, vì thế, haiku rất giàu sức gợi. Ở thơ haiku, ta bắt gặp bút pháp của tranh thủy mặc, thiên về thần thái hơn là đường nét. Kết cấu bỏ lửng của thơ haiku chính là cái hư không bãng lãng khó nắm bắt của tinh thần Thiền tông. 

PHAN VIỆT trò chuyện với NGÔ BẢO CHÂU


[Vào lúc : 10:06 - 08/06/2010 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]
Nhà văn Phan Việt hỏi: “ Anh đã bắt đầu ngấm cái chuyện anh rơi vào trường bất tử chưa? Tức là... với thế giới thì có thể là anh chỉ được biết nhiều trong giới toán học; nhưng mà ở Việt Nam thì anh chắc chắn sẽ đi vào lịch sử rồi, có thể là sẽ có trường Ngô Bảo Châu, có đường Ngô Bảo Châu, có giải thưởng Ngô Bảo Châu, vv...” . Nhà toán học Ngô Bảo Châu trả lời: “Thực ra thì đấy là cái đáng ngại nhất đấy, đấy chính là cái đáng ngại nhất...  Từ bé anh đã có cảm giác là mình phải sống thế nào để sau khi mình ra đi thì mình không để lại dấu vết gì về bản thân nữa. Anh nghĩ là chuyện không để lại dấu vết gì cũng là chuyện quan trọng. Giống như trong cuộc sống bình thường, khi mình rời khỏi nơi nào đó hoặc làm xong chuyện gì thì mình nên thu dọn sạch sẽ để ra đi”

Đỗ Bích Thúy, SN 1975, trở thành nữ Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội ở tuổi ngoài 30, được coi là một trong những người thành đạt sớm. Chị cho rằng, 7X có vẻ khép kín và công thức hơn. Nhưng nói đi phải nói lại, sự thận trọng đôi khi trì níu con người ta, nhưng đôi khi cũng giúp con người ta đủ bình tĩnh cũng như lường trước hậu quả để có thể đưa ra một quyết định nào đó. Còn bàn về văn chương, Đỗ Bích Thúy khẳng định: “Không phải tôi rơi vào trạng thái mất cân bằng, mà vì càng ngày tôi càng nhận ra, văn chương (dù là một truyện ngắn hay một đoản văn) phải mang trong nó những ẩn ức về cuộc đời, về thân phận. Và những tác phẩm văn học nghệ thuật ở lại với người thưởng thức lâu nhất bao giờ cũng là những tác phẩm đi sâu vào thân phận người, đánh thức lòng nhân ái, trắc ẩn trong họ, lay động được phần tình cảm sâu kín nhất trong tâm hồn họ!”

Nhớ lần về quê, tôi sang thăm bà cô, thấy trên tường ngổn ngang những vệt vôi quệt Cái dấu cộng (+). Cái dấu trừ (-). Tôi ngạc nhiên: Hợp tác xã tan rồi, sao cô vẫn còn ghi công điểm gì thế này? Công điểm gì đâu cháu. Đây là những món nợ đấy. Thấy tôi ớ ra, bà cụ mới giải thích cặn kẽ. Đây là bát riêu cá nhà Độ. Đây là khúc cá rán nhà Toán. Còn đây là bát canh rau ngót nhà Thiều. Thì ra có món gì ngon, bà con hàng xóm thương cụ, cho bà cụ miếng gì, bà cụ lại quệt một vệt vôi lên vách. Để nhớ đấy là một món nợ. Thế rồi nhà có món gì ngon, cụ cũng lại sai con cháu mang sang biếu lại, rồi quệt lên vách dấu cộng. Coi như ơn nghĩa đã được trả xong… Bởi thế, chẳng có sự phản trắc nào có thể tồn tại được ở đất nước trong vắt một bầu khí quyển nông dân.

Thời kinh tế thị trường và toàn cầu hóa, người nông dân nước ta phải đối mặt với quá nhiều rủi ro, thách thức. Từ câu chuyện cá tra, các ba sa đến giá lúa gạo, cà phê hồ tiêu, rau quả và bây giờ là phân bón, là sắn, là ngô. Hết cúm gia cầm đến dịch lở mồm long móng, dịch tai xanh rồi dịch tôm. Nông thôn Việt Nam đang đuối sức - Đó là lời cảnh báo trên báo Nông nghiệp, cơ quan của Bộ NN-PTNT. Có một thống kê được nhắc đi nhắc lại nhiều lần: 70% dân số Việt Nam sống dựa vào nông nghiệp, hàng năm đóng góp 20% GDP toàn quốc, nhưng đầu tư cho nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 10% tổng vốn đầu tư của nhà nước và 80% số đó lại tập trung vào thủy lợi. Gói kích cầu hơn 1 tỷ USD của Chính phủ chủ yếu đổ vào các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn kinh tế. Gói kích cầu 18.000 tỷ của Hà Nội thì chủ yếu dành cho các dự án 1.000 năm Thăng Long, dự án xây dựng hạ tầng, nhà ở xã hội và xã hội hóa đầu tư trên địa bàn Thủ đô. Thế còn nông nghiệp và đời sống nông thôn thì được kích cầu bao nhiêu?

Nhìn ở chừng mực nhất định, Lê Quang Trang được xem như một gương mặt nhà thơ thành đạt. Ông làm báo đến chức Tổng biên tập báo Đại Đoàn Kết. Ông làm văn đoạt nhiều giải thưởng và giữ ghế Chủ tịch Hội đồng lý luận phê bình Hội nhà văn VN. Riêng với thơ lại giúp ông trăn trở “Nghĩ về nghề” thường xuyên: “Hòn bi tròn lăn xa/ Không để lại dấu vết/ Xích xe tăng đi qua/ Vết hằn bám vào mặt đất/ Làm sao cho trang viết/ Hằn vào đời như vết xích xe tăng”. Ông tình nguyện trầm tư bên ngọn đèn mờ tỏ số phận “đối diện với tâm hồn có bao điều hụt hẫng” để khích lệ bản thân “xin anh chớ yếu mềm/ xin anh chớ hiền với cuộc đời còn nhiều quỷ sứ” và nghẹn ngào bật ra những dòng xao xác: “Móc ngoặc, tham ô, cửa quyền, luồn lách/ Lên tiếng rồi cái xấu vẫn chưa vơi/ Biết bao thứ nhân danh không diễn đạt thành lời/ Tìm cái lợi trong tầm nhìn ích kỷ/ Khoảng cách với ngôi-sao-nhắc-nhở/ Sao không thân gần như thuở chiến tranh”. Có rất nhiều câu thơ quặn thắt của Lê Quang Trang mà có lẽ người yêu thơ trích dẫn không cần ghi tên bài thơ, vì tôi dám chắc khi tác giả ôm lấy trái tim mình cơ hồ đổ ập lên trang giấy xót xa, ông không hề muốn có những ý tứ bất tử trong tác phẩm, mà ông chỉ mong mỏi cuộc đời ngoài kia tốt đẹp hơn!

Văn học hôm nay, tại sao ta chưa có nhiều những tác phẩm lớn  có giá  trị như mong ước của mọi người? Tại sao ta chưa tạo ra được phong trào và chưa tạo ra sự  thống nhất về khuynh hướng sáng tác để tạo ra hệ thi pháp tiêu biểu cho cả một thời kỳ và giai đoạn? Đó là vì, theo tôi, các văn nghệ sĩ chưa ý thức được vấn đề trên một cách sáng rõ. Mỗi người mỗi quan niệm, mỗi tuyên ngôn, mỗi cách thể hiện riêng mà theo họ, đó là độc đáo, là cách tân mới lạ của mình. Hơn nữa, các sáng tác kiểu ấy, đa phần lại công bố trên mạng, trên các phương tiện đặc biệt khác, chỉ một số người đọc được, còn đa số các độc giả khác chưa có dịp tiếp xúc. Vậy thì làm sao tạo ra được sự cộng hưởng về dư luận tiếp nhận, làm sao tạo ra được sự thống nhất nhưng đa dạng về thi pháp, khả dĩ đại diện mới mẻ và hợp quy luật cho văn chương thời đại mình? Vì vậy, sau những tuyên ngôn của họ, một thời đại văn học mà họ mong muốn vẫn ở tận đâu đó trong hút hắt của im lặng.

Nhún nhảy bắt chước, văn minh vay mượn


[Vào lúc : 11:02 - 26/05/2010 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]
Mỗi lần trên sân khấu xuất hiện vài đứa trẻ ào ào đọc Rap, lò cò nhún nhảy lắc lư tự nhiên tôi thấy nhột nhột trong người và thấy chúng nó khổ khổ thế nào ấy. Việc gì cứ phải gân cổ lên lẩm bẩm những câu nhát gừng vô nghĩa theo cái tiếng cục cắc của nhạc người ta. Và làm gì cứ phải lò cò, lắc lư, uốn éo, trợn mắt, xù tóc … như mấy ca sỹ da đen ở mãi bên Tây. Có người bảo chúng nó hát hò, nhảy nhót cứ như tập thể dục buổi sáng. Mà đúng là giống tập thể dục thật: chân ngắn, tay ngắn, ngực bé, hông bé, cổ rụt… cứ quay cun cút chẳng giống tập thể dục là gì. Chưa kể đến cái giọng mỏng tanh, the thé, lại lẩm bẩm mấy câu vô nghĩa rồi thỉnh thoảng lại ka mon, hú há một cái giật cả mình, chẳng ăn nhập gì cả. Nói chung, trông rất khổ sở vì đáng lẽ không uống được rượu, lại cố nốc vào nên nhăn mặt, nhăn mũi trông cực ngốc xuẩn!

Thầy giáo Đỗ Việt Khoa lao vào chiến đấu với những gì mà cá nhân thầy cho rằng những cái đó đang nguy hại cho ngành giáo dục. Thầy Khoa cứ tin rằng phía sau mình là cả một biển người đi theo thầy. Nhưng thực ra người ta chỉ đứng xem thầy như một sự tò mò. Chỉ có rất ít người thực sự ủng hộ thầy mà cũng lo cho thầy… Nhưng sau những ngày "thăng hoa", những người đứng về phía thầy Khoa và lên tiếng về ngành giáo dục dần dần rút lui và để lại trận chiến cho một kẻ duy nhất là thầy Khoa. Thế là thầy Khoa chẳng biết "kẻ thù" của ngành giáo dục đang ở phía nào. Thầy Khoa những ngày tháng sau đó giống như một người lính chẳng có người chỉ huy. Nhưng trong lúc đó, quanh thầy đầy tiếng la ó, tiếng dọa dẫm của "kẻ thù". Vì thế, thầy Khoa có hoảng hốt mà "bắn" loạn xạ âu cũng là chuyện dễ hiểu.

Nguyễn Văn Ninh không muốn tạo nên huyền thoại về nỗi thống khổ của con người. Anh chỉ khát khao nhìn cuộc sống như nó vốn có…Đôi lúc Nguyễn Văn Ninh đóng vai một người con ngoan, và mãi không lớn lên, vẫn tấm lòng không thay đổi. Thấp thoáng đâu đó tình cảm máu mủ, gia đình, đạo lý làm người. Nhưng nó không thắng nổi sự chịu đựng nặng nề của cuộc sống, sự tha hóa của tình người, cái bê tha bệ rạc chảy tràn bờ thành những hành vi không kiểm soát nổi. Đã đến lúc không thể lấy một vài yếu tố cá nhân, gia đình và xã hội để lý giải tính cách của mỗi con người và tâm lý của một cộng đồng người. Quá khứ tươi đẹp đã mất rồi, lỗi tại ai? Đó là nỗi nhức nhối của một thời đại không còn tiếng súng, mà niềm tin và tình người mục ruỗng, xã hội tha hóa xói mòn trầm trọng. Nguyễn Văn Ninh không ngại gọi tên sự vật, nói huỵch toẹt vấn đề...

Phân trang 41/84 Trang đầu Trang trước 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]

Những bài mới nhất