NGUYỄN BÍNH hồi tôi giếng ngọt trong veo


[Vào lúc : 09:47 - 23/12/2011 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]
Cái tài của Nguyễn Bính, là dù ông rất chú trọng về mặt vần điệu, song hơi thơ đọc lên nghe vẫn thanh thoát, tự nhiên, chữ nghĩa xem ra cũng không bị gò gẫm. Đặc biệt, trong nhiều trường hợp, như một ông thầy cao tay điểm huyệt,   Nguyễn Bính đã có cách nhấn nhá, luyến láy chữ nghĩa tài tình, tạo cho bài thơ, khổ thơ một sự thăng hoa, bứt phá rất ấn tượng. Nó như liều thuốc chống buồn ngủ khi người tài xế đang dong xe trên một cung đường êm ả, vắng người…Và cách luyến láy, nhấn nhá này được Nguyễn Bính sử dụng nhiều ngay từ lúc khởi nghiệp thơ cho mãi đến những năm về sau.

Thời kỳ đất nước tiến hành đổi mới từ năm 1986, đặc biệt là sự xuất hiện của nền kinh tế thị trường kéo theo nhiều sự thay đổi về các quan hệ xã hội và ngay cả trong quan niệm về cuộc sống của con người, Nguyễn Khải có dịp đến với nhiều miền đất lạ, trở lại những nơi ông đã từng qua, đã lấy tài liệu để viết suốt một thời tuổi trẻ. Thời thế đem đến cho ông những cách nhìn mới, khác lạ, như là sự tự phát hiện lại mình - “vẫn đất nước mình mà thêm một bước đi là một bước lạ. Vẫn là con người Việt Nam mình mà gặp thêm một người lại tưởng như buộc mình phải hiểu lại chút ít về con người”. Thế giới nhân vật của Nguyễn Khải lúc này thực phong phú: từ già đến trẻ; từ thông minh, tháo vát, đến vụng về, lạc thời, bế tắc...

Ngọn lửa văn minh và thảm họa cháy nổ


[Vào lúc : 15:00 - 20/12/2011 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]
Có thể nói, nền văn minh của loài người được đo bằng sự tiến bộ của lửa. Nhiều chuyên gia cho rằng văn minh loài người bắt đầu từ việc nấu chín thức ăn, bởi vì không ăn chín uống sôi, thì con người cũng chỉ là một con thú hoang dã mà thôi. Và đi dọc sự phát triển của loài người là cách mà người ta dùng lửa, nào lửa nến đã được thắp bằng điện năng, nào các vũ khí phát triển đều dựa trên sự tàn phá của lửa hay thuốc nổ. Và sự phát triển đó cũng đem đến cho sinh hoạt bếp núc của con người những ngọn lửa tiện lợi mới. Xưa thì bếp than, bếp củi, nay thì người ta đun bếp điện, bếp ga. Đây là một bước ngoặt mang rất nhiều sự tiện lợi, chẳng hạn như bếp than vừa đen, vừa bẩn, vừa lâu, thì bếp ga vừa nhanh, vừa sạch. Nhưng trái lại, như người ta vẫn nói, cái gì cũng có hai mặt của nó, cái càng tiện lợi thì càng chứa chất trong nó cái bất tiện tương xứng...

Trong tương quan toàn cầu, Việt Nam có nhiều chuyên gia kinh tế, quân sự giỏi, gần đây có giáo sư được giải thưởng lớn về toán học. Ngay cả thể thao còn đạt được vài huy chương vàng thế giới. Có bao giờ họ đặt ra câu hỏi tại sao văn học hợp pháp ở Việt Nam còn kém văn học thế giới từ 100 năm đến 200 năm? Ngoại trừ một số tác phẩm có giá trị, phần nhiều thơ và văn xuôi được giải thưởng là thơ văn như thế kỷ 18, 19 ở Pháp, ở Nga. Lý luận phê bình thì lập lại chuẩn mực mỹ học thế kỷ 19 của Pháp và thời Liên Xô cũ. Phải chăng dòng chảy văn học bị bế tắc tự bao giờ? Trước đây trong hoàn cảnh chiến tranh chống chủ nghĩa thực dân và thời kỳ bao cấp, dẫn đến ấu trĩ trong quan điểm văn học, còn có thể đổ lỗi cho hoàn cảnh lịch sử. Nhiều năm nay, Việt Nam đã mở cửa, ngoại giao đa phương, gia nhập thị trường kinh tế toàn cầu… Chẳng lẽ không muốn giao lưu với văn học thế giới?! Giao lưu không thể chìa ra những cuốn sách viết “chưa sạch nước cản”, với nội dung minh hoạ gì đó quá sáo mòn.

Nỗi ám ảnh THÈM CƠM


[Vào lúc : 10:42 - 09/12/2011 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]
Hơn 60 năm về trước, khi giãi bày cùng quốc dân  đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói những lời còn in sâu vào lòng bao thế hệ người Việt Nam : "Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước nhà được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn , áo mặc, ai cũng được học hành". Bao nhiêu công sức và cả không ít xương máu  của hàng triệu  người con dân  nước Việt đã đổ ra vì những mục tiêu cao cả và cấp thiết ấy. Thành công là rất lớn, nhưng  chưa thể coi là hoàn hảo. Đơn cử như mục tiêu tưởng chừng như thật giản dị, không quá xa vời : "đồng bào ta ai cũng có cơm ăn" ... Đến hôm nay, tôi vẫn không thể nào quên gương mặt khắc khổ, đượm buồn của chị Huỳnh Thị Ly, một phụ nữ nông dân ở Thới Lai, Bến Tre - Nam Bộ. Hơn một tuần trước, tình cờ trong Chương trình quyên góp bò tặng nông dân nghèo "Lục lạc vàng" thấy VTV1 đưa hình ảnh chị cùng lời nói nhòa trong nước mắt :  "Tui phải nhường cơm cho con ăn để nó không phải mang cái bụng lép kẹp đến trường, phần tui lúc nào cũng  thèm cơm...".

Những biến cố lịch sử tại miền Nam trong gần hai thập niên (1955 -1975) đã có tác động đến giới văn nghệ sĩ. Ý thức dấn thân nhập cuộc của những cây bút đô thị trong từng giai đoạn, đã đưa họ vượt ra ngoài cái thế giới riêng tư của mình để vươn tới sự cảm thông sâu sắc, đồng thời chia sẻ với thân phận bọt bèo của người cùng khổ, người bị áp bức. Những tác giả đô thị tại Sài Gòn và  tại các thành thị miền Nam đã bày tỏ tình liên đới với người dân cùng khổ ở nông thôn và người dân nghèo thành thị tại miền Nam.   Từng nơi, từng lúc, những tác giả đô thị đã đóng góp nhiều tác phẩm dấn thân, phản kháng, dân tộc, tiến bộ và yêu nước vào dòng chảy văn học Sài Gòn trước năm 1975 và tiếp tục đồng hành với văn học đất nước từ sau năm 1975.

Nghệ thuật tiêu tiền


[Vào lúc : 17:15 - 07/12/2011 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]
Kiếm tiền đã khó, tiêu tiền còn khó hơn. Kiếm tiền thuộc tài năng kinh tế. Tiêu tiền thuộc trình độ văn hoá. Nước ta còn nghèo. Dù đời sống có khá hơn thời bao cấp nhiều lắm nhưng mới chỉ khá trên cái váng mỏng của tiêu chuẩn thành phố văn minh. Còn số đông bà con lao động cơ bắp ở nông thôn, ở miền núi, miền biển… vẫn cực nhọc lắm. Cứ xem sự phát triển thể chất (chiều cao, cân nặng) và việc học hành của trẻ con các nơi đó thì rõ. Chưa thể nhẹ lòng, vung tay quá trán mà ăn tiêu được. Mỗi cá nhân, mỗi bộ ngành cần có cách tiêu tiền  thông minh, có hiệu quả mới có thể cải thiện cuộc sống con người trên đất nước này.

ANH NGỌC lại trở về với bản năng xưa


[Vào lúc : 16:00 - 06/12/2011 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]
Không phải đến bây giờ, sau một chặng đường dài "đi tìm cái tôi đã mất", nhà thơ Anh Ngọc mới được trở về chính mình, mà ngay từ những vần thơ đầu tiên năm 14, 15 tuổi, ông viết cho riêng mình, đã thể hiện một bản năng sống như vậy. Đến nỗi dù sau này, cuộc đời có đưa đẩy nhà thơ Anh Ngọc vào những mảng khác nhau của đời sống nhất thời, thì cuối cùng, "bản năng gốc" vẫn kéo ông trở về cái muôn thuở như nó đã đến rất hồn nhiên từ buổi ban đầu ấy. Gần 10 năm nay, nhà thơ Anh Ngọc ẩn mình trên căn gác nhỏ ở phố Lý Nam Đế (Hà Nội). Thơ ông thấm nỗi niềm của thế cuộc, của một tâm hồn mẫn cảm luôn ám ảnh về bản chất của cõi sống và cái chết...

Nhà phê bình Nguyễn Hoàng Đức nhận định: “Từ xưa đến nay, vấn đề giữa chủ và người làm công luôn chiếm một vị trí trung tâm xuyên suốt của mọi xã hội cũng như thời đại, nó là xương sống trong lý thuyết “Cộng Hòa” ( La Republique) của Socrate và Platon, cũng là sợi chỉ xuyên thấu trong lý thuyết đấu tranh giai cấp của Karl Marx được đề cập trong cuốn “Tư bản” (Capitalisme). Nó rất phức tạp, vì đó là cuộc đời sống còn của mỗi công nhân, là mơ ước làm giầu của ông chủ, và là sự thịnh - suy của thời đại cũng như mỗi công ty hay quốc gia dân tộc. Vậy thì trong bối cảnh kinh tế thị trường mới bật tung cửa, đầu tư nước ngoài rót tới ào ạt, các ông chủ nước ngoài nhiều như lá xuất hiện, nhiều người làm công Việt có cơ hội làm việc cho các công ty liên doanh với nước ngoài với thu nhập cao, làm cho quan hệ vốn phức tạp sẵn có thường xuyên giữa chủ và người làm công càng trở nên phức tạp hơn"

ĐỖ BÍCH THÚY trên căn gác áp mái


[Vào lúc : 10:50 - 03/12/2011 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]
Một điều đáng chú ý là đọc văn Đỗ Bích Thúy người ta thông tỏ hơn về một vùng văn hóa vốn rất xa Hà Nội và gồm các sắc tộc thiểu số, với nhiều nét văn hóa khác biệt. Vấn đề này, đã một lần cô Thúy thuyết phục được cả các nhà làm phim tư nhân khó tính, bỏ ra cả chục tỉ, dựng làm phim nhựa, đưa cái hồn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá xù xì triềng ra khắp thế giới. Ở tập sách “Trên căn gác áp mái”, tính kí và báo chí giúp nhà văn mở ra một vùng văn hóa trực diện hơn. Những câu chuyện như trên dẫn, hay “Tuổi thơ”, “Quê ngoại”, “Cơm Lam”  và, đặc biệt “Rừng mả” tỏ rõ cái bề dày văn hóa vùng miền của nhà văn. Nhân vấn đề này, tôi bàn thêm về cách đọc văn chương. Ở mạng FB, có độc giả tâm sự thất vọng khi tìm về những vùng miền hoang dã trong truyện ngắn cô Thúy viết. Họ không tìm thấy các hình ảnh lãng mạn nhà văn vẽ ra ở Hà Giang. Hà Giang có bao thay đổi theo thời gian. Tiêu cực nhiều hơn, nhất là vấn đề môi trường. Đây là tất yếu của bất kì cảnh trí văn học trôi qua thời gian...

Phân trang 4/84 Trang đầu Trang trước 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]

Những bài mới nhất