Nếu so sánh với Trái cấm, tập thơ đầu tay của Nguyễn Phan Quế Mai thì “Những ngôi sao hình quang gánh”, đặc biệt là hơn hai chục bài viết sau “Cởi gió” cho thấy sự nỗ lực  hoàn thiện và bắt đầu chín của một cây bút giàu nội lực. Càng ngày, thơ của Nguyễn Phan Quế Mai càng khẳng định sự tìm tòi hướng về những người bình dị, những cuộc đời bình thường với cảm nhận tinh tế và lấp lánh trí tuệ. “Trên những triều vua đã đổ,Mồ hôi người vươn lên xanh tươi” (Người làm vườn trong Đại nội), “trận đói năm bốn lăm, làng tôi đói mồ chôn xác chết” (Bài thơ chưa thể đặt tên), “người đàn bà dép lê đang góp nhặt từng đồng từ bún đậu mắm tôm” ( Hai phạm trù sự thật), “những người phụ nữ ngồi, nhặt nhạnh chắp vá đời mình từ rác vụn” ( Lời của rác) là những hình ảnh thơ giàu sức ám ảnh bạn đọc...

VĂN CAO tự do tái sinh những trải nghiệm


[Vào lúc : 18:59 - 25/09/2011 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]
Cuộc đời 72 năm của Văn Cao gắn bó trọn vẹn với Việt Nam thế kỷ 20 nhiều biến động, để lại cho thế hệ sau nhiều câu hỏi không dễ trả lời. Câu hỏi rộn ràng về cống hiến nhọc nhằn, câu hỏi cồn cào về thế sự ngổn ngang, câu hỏi mịt mờ về mệnh kiếp lênh đênh. Một Văn Cao đa tài không thể che chở một Văn Cao lận đận. Một Văn Cao danh vọng không thể bênh vực một Văn Cao cay đắng. Một Văn Cao hào hoa không thể an ủi một Văn Cao cô độc. Những ngày tháng Văn Cao đã sống, cứ đổ cái bóng gầy hắt hiu và trắc ẩn vào lòng công chúng, mà những bài hát của ông không lý giải được, những bức tranh của ông cũng không lý giải được. Chỉ còn lại thơ, xoa dịu và tỏ bày giùm ông.

NHIỀU đang trở thành NHIỄU


[Vào lúc : 11:29 - 25/09/2011 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]

Nhà phê bình Vương Trí Nhàn phân tích: “Dăm miếng cau khô mấy lọ phẩm hồng”, có thể mượn lại mấy câu thơ Hoàng Cầm tả cái mẹt hàng xén của mấy bà già lọ mọ trên các chợ quê bên kia sông Đuống để hình dung ra tình trạng bài vở trên một vài tờ báo hôm nay. Một khi không đạt tới những bước đột phá về chất lượng mà chỉ lan ra theo số lượng, báo chí dù có cố gắng đên mấy cũng không khỏi rơi vào tình trạng ngổn ngang bề bộn.Cùng lúc có nhiều tiếng nói cất lên song như lẫn vào nhau và đứng lùi ra mà nghe chỉ còn thấy một cái gì ồn ã kèm theo khá nhiều tạp âm. Tẻ nhạt do nghèo nàn ít ỏi dẫu sao vẫn có khía cạnh đáng thông cảm. Tẻ nhạt ngay trong cái bề ngoài phong phú dồi dào thì cái ấn tượng về sự tẻ nhạt ấy mới thật nặng nề bởi người ta phải thầm hiểu với nhau rằng không dễ gì mà thoát ra nổi.

Y PHƯƠNG hát bây giờ còn để hát mai sau


[Vào lúc : 17:53 - 17/09/2011 | Chuyện mục : Ý kiến - đối thoại]
Bước vào thế giới thơ Y Phương, độc giả luôn được thực hiện một chuyến ngược ngàn. Sông chảy, gió chuyển, phố uốn lượn, người nhấp nhô. Một phần do Y Phương thường sử dụng câu ngắn, liên tục ngắt dòng, nhưng một phần nữa do suy tưởng của Y Phương được triển khai đột ngột. Nói cách khác, thơ Y Phương trực tiếp đột kích vào nhận thức của người đọc, sau đó mới hình thành yếu tố thẩm mỹ. Ý nghĩ vận động liên tục trong thơ Y Phương từ câu mở đến câu kết. Khi nào ý nghĩ dừng thì thơ dừng. Sự thành bại của những bài thơ như “Cô bé nào”, “Người đẹp phố Vườn Cam” hoặc “Ngọn đèn đường mùa đông” đều được xác lập yêu thích theo từng người cảm thụ, vì có khi ý nghĩ đến trước thơ, mà cũng có khi thơ bị đuối ý nghĩ. Khi và chỉ khi ý nghĩ không còn tung hứng tay này sang tay kia mà đẩy vút đi thì có ngay sản phẩm đích thực Y Phương

Nghịch lý hiển hiện mà hình như “người ta” đã cố tình né tránh không nhận ra, là những nhà văn nhà thơ nổi tiếng nhất trong nền văn học Việt Nam đương đại, tính đến năm 2011 này, ngoài Giải thưởng Hồ Chí Minh (GTHCM) được trao tặng ngay từ đợt đầu tiên, không có thêm giải thưởng nào khác, còn các nhà văn nhà thơ được GTHCM đợt này và những đợt sau, thực tế cho thấy họ còn oách hơn danh giá hơn, nhiều tiền vietnamđồng đi kèm giải thưởng hơn các bậc lão làng tiên chỉ của văn học Việt Nam. Nhà thơ Hữu Thỉnh hơn hẳn nhà thơ Xuân Diệu, nhà văn Lê Văn Thảo hơn cả nhà văn Nam Cao… vì mấy anh còn có cả Giải thưởng Nhà nước (GTNN) đã nhận trước đây, mà các cụ nhà văn tiền bối không có. Sự “tréo ngoe” này chẳng khác gì tình trạng người chiến sĩ có chiến công đặc biệt xuất sắc chỉ được tặng thưởng huân chương hạng nhất, còn người ít công trạng hơn “tạm thời” nhận huân chương hạng nhì, trước khi nhận tiếp huân chương “đầu hạng” sau đó mấy năm mà chẳng có thêm chiến tích nào cho ra hồn. Để những người còn có lòng tự trọng bớt áy náy ngượng nghịu, các nhà văn nhà thơ (ở các lĩnh vực hoạt động khác nữa) liệu có nên “tự nguyện” hoàn trả tất cả các quyền lợi về tinh thần, vật chất do GTNN mang lại, trước khi nhận tiếp GTHCM ?

Đức Khổng phu tử sinh thời, đã đưa ra một học thuyết rất hay, có ích cho nhân loại muôn đời là học thuyết Chính Danh, rằng: “Danh không chính thì Ngôn không thuận, Ngôn không thuận thì Việc không thành”. Nay thử lấy thuyết chính danh trên để xét “Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ 8” của Hội nhà văn Việt Nam có thực chính danh không? Theo báo chí cho biết, tới dự “Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ 8” này có 112 đại biểu viết văn trẻ và 100 đại biểu viết văn già. Trong mấy ngày hội nghị, số các nhà văn già phát biểu nhiều hơn số nhà văn trẻ phát biểu, thời gian đăng đàn của các nhà văn già gấp đôi các nhà văn trẻ. Như vậy, số nhà văn trẻ dự hội nghị chỉ hơn số nhà văn già 12 người, coi như gần tương đương nhau. Như thế này, không thể gọi là “Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc” được, mà phải gọi sự vật bằng tên của nó như thế này, mới đúng, mới chính danh: “HỘI NGHỊ VIẾT VĂN TRẺ VÀ VIẾT VĂN GIÀ TOÀN QUỐC LẦN THỨ NHẤT” mới đúng.

Nhà văn Ngô Khắc Tài, một tác giả truyện ngắn nổi danh của đồng bằng sông Cửu Long, suy ngẫm: "Hồi còn nhỏ, những buổi trưa hè gió luồn từ vườn sau ra cổng trước, các bà mẹ quê hay để tóc xoả tóc dài cho mát nằm đu đưa trên võng hát ru con, những bài ca dao ngộ nghỉnh nghe buồn mê. Vì còn nhỏ tôi nghe không hiểu sâu sắc lắm ý tứ kín đáo của các bài ca dao ấy nhất là bài ca dao con cò ăn đêm. Không hiểu nhưng qua con cò ăn đêm tôi vẫn mường tượng ra một cái gì đó. Nó vẫn còn đó nhưng nó theo ẩn hiện như ít nhìn thấy, đôi khi không biết tìm nó ở đâu. Tôi mường tượng nó là gì theo thời gian cho tới lúc bắt đầu bước vào tuổi cứng cạy trước khi bước vào tuổi già dễ mềm lòng, gần đây dõi theo báo chí những vụ án kinh tế, cho đến các vụ án nông trường sông Hậu diễn ra mà can phạm là cô Ba Sương – Trần Ngọc Sương. Từ trong ký ức xa, tự nhiên bài ca dao con cò ăn đêm vựt hiện ra, để rồi tôi hiểu điều mình mường tượng, có phải đó là lương tâm của con người, của xã hội..."

Diễn văn khai mạc Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc của ông Hữu Thỉnh không chỉ có những lập luận ngây ngô và những kêu gọi cải lương như “Tagore nói: “Trò chơi chỉ là trò chơi khi có người chơi nó”. Vậy thì viết văn mà không có người hiểu văn nữa, làm thơ mà không còn người hiểu thơ nữa, thì văn thơ lập tức biến mất, trở thành con vật tàng hình đang kêu khóc thảm thiết ở đâu đó. Hướng tới công chúng, sao cho mỗi tác phẩm là một thông điệp nồng nàn với đời sống, thắm thiết niềm tin yêu con người, đó là lẽ phải thông thường của văn học và cũng là khát vọng cầm bút của chúng ta”, mà còn đầy rẫy những ngớ ngẩn của một kẻ “lão lai tài tận” lẽ ra nên rút vào xó vắng vui thú điền viên chứ không nên cao đàm khoác luận hoặc đăng đàn diễn thuyết nữa. Chẳng đặng đừng, tác giả Trần Đình Thu phải “vạch lá tìm sâu” để chứng minh điều ấy!

Nhà thơ Hữu Thỉnh vốn có tài xảo ngôn. Dù thơ kẻ khác mà mình chưa bao giờ đọc, ông cũng hào hứng khen “thơ cậu rất nhan sắc”. Quen mồm ca tụng bữa bãi đến mức khô cạn chữ nghĩa, thơ rất nhan sắc là thứ thơ gì, đố ai biết được. Mới đây, Hữu Thỉnh tập hợp các bài báo hổ lốn, ngoài mấy cái... tổng kết cuộc thi văn chương nức nở thì phải nói đặc biệt nhất là các bài điếu văn hoa mỹ và sáo rỗng, để in thành cuốn sách “Lý do của hy vọng”. Thật hãi hùng, vẫn có lắm kẻ xu nịnh nhảy ra khen “Lý do của hy vọng” như thể một kiệt tác tầm cỡ nhân loại. Phát huy tinh thần khoa trương ấy, Hữu Thỉnh tiếp tục có bài diễn văn khai mạc Hội nghị viết văn trẻ toàn quốc lần thứ 8, mà chỉ cần ai có chút tự trọng tối thiểu và chút thẩm mỹ khiêm nhường cũng thấy chối tai trước cái câu vuốt ve thớ lợ “xin chào các sứ giả đến từ miền của tài năng”. Nhà văn Nhật Tuấn có bài bình luận về “câu bốc thơm sực nức phấn son đàn bà quá lứa lỡ thì của bác Hữu Thỉnh còn gợi nhớ tới một cuốn sách của lão nhà văn Nguyễn Xuân Khánh xuất bản thời đổi mới: “Miền hoang tưởng”!”

Khi viết về nghề bách công trong Việt Nam phong tục (in lần đầu 1915) Phan Kế Bính bắt đầu bằng câu: “Đường công nghệ của ta thì kém lắm”. Chỉ vài nghề được ông cho là người nước ta chịu khó làm kỹ. Nếu làm tốt “cũng giữ được tiền của trong nước xổng ra nước ngoài”, nhưng số đó rất ít. Có một số nghề “tuy trong nước dùng nhiều nhưng không ai chế ra được kiểu cách mới cho thích mắt và hợp dụng với người ngoại quốc”, nên làm ăn chỉ nhì nhằng. Và ông tiên đoán “lại e trong nước người dùng mãi cũng chán mà bỏ tiền mua của người nước ngoài thì thiệt hại cho của trong nước nhiều lắm”. Chẳng những đã tổng kết tình trạng sản xuất của người xứ mình suốt thời trung cổ mà bước đầu nhà nghiên cứu văn hóa Phan Kế Bính còn đặt nó trong quan hệ giao thương với nước ngoài để thấy một triển vọng xấu đang chờ đợi. Khi viết rằng “lại e trong nước người dùng mãi cũng chán mà bỏ tiền mua của người nước ngoài”, Phan Kế Bính đã bắt đầu hé ra một khía cạnh thuộc về tâm lý xã hội của người mình...

Phân trang 10/84 Trang đầu Trang trước 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]

Những bài mới nhất