HỮU NGỌC nhân đi viếng người đã khuất


[Vào lúc : 11:04 - 01/11/2011 | Chuyện mục : Chuyện làng văn nghệ]
Ngày 1 tháng 11 là ngày lễ Các Thánh (Toussaint) của Công giáo, ngay sát ngày lễ Các Vong Hồn. Ở phương Tây, lễ Các Vong Hồn  thường đúng lúc thời tiết lạnh, ảm đạm, hợp  cõi chết, hợp với câu thơ Nguyễn Du Lọt hơi sưong lạnh buốt xương khô/ Não người thay…  Vì vậy, tiếng Pháp có thành ngữ un temps de Toussaint (thời tiết ngày lễ Các Thánh) để chỉ tiết “Não người thay…”. Nhớ lại ngày Toussaint năm ấy, ở Paris, ngán cảnh nhộn nhịp phố phường, tôi tìm đến một nơi yên tĩnh là nghĩa địa Montparnasse là nghĩa địa lớn thứ ba của thủ đô Pháp. Nghĩa địa Montparnasse xây dựng từ năm 1824 chia làm hai khu, quây tường chung quanh, ngăn cách bởi một con đường. Mỗi khu có những lối ngang dọc, mộ xây như những nhà con, như những khu phố người sống. Tôi đang đi tìm mộ Sartre và Beauvoir thì gặp một người bảo vệ mặc đồng phục chỉ cho biết. Mộ hình chữ nhật, xây đơn giản, trên hãy còn mấy bó hoa được đặt từ lễ Các Thánh.

MA VĂN KHÁNG và hai chiếc ba lô đại sự


[Vào lúc : 16:26 - 31/10/2011 | Chuyện mục : Chuyện làng văn nghệ]
Với bản tính cẩn thận, chu đáo, nhà văn Ma Văn Kháng chuẩn bị sẵn cho mình hai chiếc ba lô: một chiếc đựng đầy đủ thuốc, giấy tờ tùy thân, thẻ bảo hiểm, bệnh án… đề phòng trường hợp đến bệnh viện khẩn cấp, người nhà chỉ việc xách theo xe cứu thương; chiếc còn lại là bộ quần áo mới, những cuốn sổ ghi chép, những dặn dò dành cho người… ở lại, nếu chẳng may nhà văn phải ra đi mãi mãi. Nhưng một đêm, có tên đạo tặc đột nhập qua đường cửa sổ đã khoắng gọn cả hai chiếc ba lô. Mất hết giấy tờ, thuốc men dự phòng, nhà văn buồn rầu mất mấy ngày nhưng không dám kể với ai, cũng không đi báo công an. Chẳng lẽ lại báo mất hết đồ đạc, giấy tờ dành cho… hậu sự. Cho đến lúc con cháu biết chuyện mới ha hả cười, động viên ông: “Thôi, ông tiếc làm gì. Thằng trộm lấy hết những thứ đó là nó mang đi cho ông cả bệnh tật và cái chết rồi đấy! Thế là may. Từ nay ông cứ yên tâm mà sống vui, sống khỏe…”

Với tiểu thuyết đầu tay “Phượng áo trắng” (2 tập – NXB Văn hóa Thông tin), bác sĩ chuyên khoa cấp 1 Vương Thị Hoàng được coi là tác giả trẻ, mặc dù tuổi đời không còn trẻ. Nhân vật chính là bác sĩ Thu Phượng – người có cuộc đời trải dài qua suốt hơn nghìn trang sách từ khi còn nằm trong bụng mẹ đến khi là bà lão hơn 80 đi về phía bên kia cuộc đời. 10 tuổi, cô bé Vương Thị Hoàng đã chứng kiến những biến động lớn trong cuộc sống, nó gây ấn tượng mạnh đến nỗi lúc đó cô bé đã nghĩ khi về già, có điều kiện sẽ viết lại những điều đó. Thế là 55 năm sau, ký ức ấy đã được đánh thức khiến chị buộc phải cầm bút. Tự bảo: Tôi viết như một lẽ tự nhiên và người phụ nữ xinh đẹp, điềm đạm đã đến với văn chương một cách tự tin, đầy quyết tâm. Nguyên cớ để chị cầm bút cũng thật lạ và đề tài mà chị chọn cũng rất riêng khác – một câu chuyện mà chị đã lưu giữ vào ký ức mình từ thời bé thơ, rồi là nhân chứng suốt cả một hành trình dài qua bao thăng trầm đổi thay của thời cuộc, để đến hôm nay, khi hoàn thành 2 tập tiểu thuyết “Phượng áo trắng”, nó như cuốn nhật ký thời đại.

NGUYỄN XUÂN HẢI về tìm lá bể dâu


[Vào lúc : 12:05 - 28/10/2011 | Chuyện mục : Chuyện làng văn nghệ]
“Người về tìm lá bể dâu” của nhà thơ Nguyễn Xuân Hải là hành trình ngược chiều thời gian, không gian tìm về quá khứ. Tập thơ mang tâm thức hoài cổ chứa đựng nhiều suy tư, ẩn ức. Với một nhà thơ từng trải thì trong trường hợp này, chọn cung trầm cho thơ là thích hợp nhất để trải lòng. Đây thực sự là một thử thách đối với nhà thơ. Bởi, tâm thức trở về hàm chứa khát vọng khám phá, khai quật những giá trị cũ đã bị che phủ, khuất lấp sau những bể dâu của lịch sử và đời người. Lại nữa, hình như bây giờ người ta đang mải ngóng về phía những tiếng thơ tân kỳ, ra sức chiếm lĩnh những chân trời không có thật, vô tình bỏ quên tiếng nói nặng sâu ân nghĩa với cội nguồn. Song, thơ vốn không thiên vị. Dù ồn ào, gào thét hay lặng lẽ, tâm tình, thơ nào chạm tới cõi thẳm của hồn người, thơ ấy được bảo tồn sự sống. “Người về tìm lá bể dâu”  khơi dậy những vùng ký ức lịch sử, văn hóa ngàn đời của dân tộc, những mạch ngầm đã và đang âm thầm chảy trong mỗi cơ thể người Việt Nam.

Ác như con tê giác


[Vào lúc : 12:56 - 27/10/2011 | Chuyện mục : Chuyện làng văn nghệ]
Chuyện con tê giác tuyệt chủng tại Việt Nam và cuốn sách “Sát thủ đầu mưng mủ” ầm ĩ mấy ngày qua, thiết nghĩ không có gì liên quan đến nhau. Nhưng mà có đấy! Thật tình cờ, mở cuốn “Sát thủ đầu mưng mủ” thấy bức tranh “Ác như con tê giác” vẽ cảnh một con tê giác vào vai “gã thợ săn” đang ngồi khoan thai, với bức tường phía sau gồm các “chiến lợi phẩm”, có cả đầu người treo trang trí. “Ác như con tê giác” mượn cách nói ngược trong dân gian, ví như: “Bao giờ cho tới tháng Ba/ Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng”. Thật tình cờ, bởi con tê giác cuối cùng của Việt Nam vừa được khẳng định đã “theo ông theo bà” và một giống loài không còn “lang thang trên đất này” nữa. Nhưng “Ác như con tê giác” mở ra một “ngụ ngôn mới” trong biếm họa của tác giả Thành Phong.

Ven sông có một nhà thơ THANH HÀO


[Vào lúc : 16:39 - 26/10/2011 | Chuyện mục : Chuyện làng văn nghệ]
Giới cầm bút Hà Nội vừa vĩnh biệt nhà thơ Thanh Hào, một số phận kỳ lạ giữa thiên tai và địch họa chỉ trong vòng một năm, chứng nhân của sự sống không dễ bị khuất phục, đã vượt lên mọi hòan cảnh! Tên khai sinh: Nguyễn Văn Hào, sinh ngày 3 tháng 3 năm 1931, từ trần ngày 21 – 10 – 2011... Nhìn nước da màu đất, gương mặt bị thời gian cày sâu từng vết, ai cũng nghĩ Thanh Hào là một lão nông thực sự. Hồi trẻ, học dở dang trung học, ông đi làm thợ sắp chữ cho nhà in. Hết sắp chữ cho báo Quê Hương, rồi  nhà in Xuân Thu, nhà in Ngô Tử Hạ. Rồi không biết có phải vì bực mình phải xếp chữ những thơ ca truyện ngắn ẩm ương cho các báo lá cải hồi ấy (Hà Nội 1952- 1954), ông cũng bắt đầu viết truyện ngắn, làm thơ.

Đến Nha Trang theo chương trình cá nhân, nhưng Nguyên Ngọc lại được đón tiếp như một vị khách quý qua con đường “chính thống”: được ở phòng VIP Nhà khách Tỉnh ủy, được Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chiêu đãi, được Đài truyền hình địa phương phỏng vấn và mời đi chơi biển… Chương trình làm việc khá bận rộn và đầy ắp… dinh dưỡng, đến nỗi đến ngày thứ 3 con gái ông – một chuyên viên toán học, ngoài giờ hội họp lại về ở với bố – bảo rằng mỗi lần nghe đến mấy chữ “đặc sản biển” là cô nổi hết da gà, chỉ mong được bữa cơm bình thường có canh lá giang, cá kho, rau luộc… Những ngày ở Nha Trang, đến đâu, hễ nghe tên Nguyên Ngọc, người quen kẻ lạ đều quây lại bắt tay chào hỏi, có người còn khoe con cháu họ vừa thi vào trường này trường nọ, khối C khối D môn văn có ra câu hỏi về tác phẩm của ông… Một lần, đang dùng bữa chiều tại sảnh chính Nhà hàng Hải Đảo, bữa ấy chúng tôi đi ít người và cố tình chọn một góc khuất để ngồi, ấy vậy mà ông vẫn bị một người nào đó phát hiện – người này tiến thẳng lên sân khấu của nhà hàng lớn tiếng đề nghị nhà văn ra mắt. Trong tình thế ấy Nguyên Ngọc chỉ còn biết đặt bát đũa xuống và cười. Khi đám đông thoắt im lặng để nghe ông nói đôi câu thay lời chào, tôi thấy Nguyên Ngọc run giọng.

Thêm một góc nhìn về NGUYỄN XUÂN THÂM


[Vào lúc : 15:38 - 25/10/2011 | Chuyện mục : Chuyện làng văn nghệ]
Nhà thơ Vân Long góp thêm tài liệu: “Nhân đọc bài của Vũ Từ Trang viết về nhà thơ Nguyễn Xuân Thâm, viết rất sinh động, chân thành, tấm lòng của một người viết thế hệ  sau yêu và trọng tài năng của một đàn anh lớp trước, tôi muốn bổ sung để bạn đọc biết thêm về nhà thơ Nguyễn Xuân Thâm, vì ông có một thời gian vắng mặt trên thi đàn (ông nhận sang Ăng-gô-la dạy học theo phân công của Bộ Giáo dục Đào tạo) và giai đoạn đầu đời viết mang bút hiệu khác. Trên đại thể, ông thuộc thế hệ các nhà thơ thời chống Mỹ, mở đầu rất đẹp bằng hai bài thơ  Rông chiêng  và  Cái chết của em Dần (Tuyển thơ Chống Mỹ cứu nước đầu tiên (1965-1967). Đặc biệt là bài "Rông chiêng" trong khi chưa xuất hiện nhà thơ nào viết về Tây Nguyên, Tây Nguyên  còn như mảnh đất huyền thọai với chúng tôi. Anh đã đáp ứng đúng như trong tưởng tượng của chúng tôi, khi viết: “Trời Tây Nguyên, chiều đại ngàn rực đỏ/Cuồn cuộn sông Ba rực lên trong ánh lửa/Bóng lũ làng giáo mác chạm nhau/ Đàn voi đi bành tía, bành nâu…”

NGUYỄN XUÂN THÂM lặng lẽ tìm trầm


[Vào lúc : 17:48 - 24/10/2011 | Chuyện mục : Chuyện làng văn nghệ]
Tuổi thơ của ông sớm phải ly quê. Sinh năm 1936 ở Vĩ Dạ (Huế), năm 1937 ông đã phải vào sống tại tỉnh lị Sông Cầu (Phú Yên). Mười tuổi, ông lại được trở về Huế. Năm mười tám tuổi lên chiến khu Hòa Mỹ, rồi được đưa ra Nghệ An học trường Huỳnh Thúc Kháng. Năm 1956, ông thi đỗ vào trường Đại học Bách Khoa, khóa 1. Cuộc đời ông được gắn bó với quê kiểng chẳng bao nhiêu, nhiều người trong quê nghĩ ông đã chết bởi bom đạn. Khi có người nhà tình cờ đọc được bài thơ ông in trên báo, thấy tên ông, mới kêu lên cho cả họ mạc biết là Nguyễn Xuân Thâm còn sống và còn làm thơ. Thì ra cái tên của nhà thơ, cũng thấm đẫm nước mắt của một thời đất nước loạn li, chia cắt.

"Chân trời sau chân trời" là những chiêm nghiệm và độc thoại của nhà thơ Vũ Quần Phương ở tuổi 72, cái tuổi xưa thì hiếm mà nay thì không hiếm. Chỉ hiếm ở  tuổi 72 mà thơ vẫn đậm hương đời, tình người, vẫn săn chắc và dồn nén, trầm tĩnh mà ẩn tàng bão dông. Khác với những tập thơ trước, kể từ tập "Quên chữ quên câu" xuất bản năm 2000 đến nay, đời mở cửa, nhà thơ tự thoát mình ra khỏi mình, thật mình hơn… Tôi đọc tập thơ "Chân trời sau chân trời" như đọc những tâm sự sâu kín. Con chữ hàm chứa đa chiều. Chân trời và sau chân trời, mặt trái mặt phải, mặt trước mặt sau, nhịp hô nhịp hấp... Trạng thái u mặc. Trầm tĩnh. Độc thoại. Ngẫm ngợi. Buồn cô đơn mà cũng không hẳn cô đơn mà là u mặc.

Phân trang 9/88 Trang đầu Trang trước 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]

Những bài mới nhất