Bài thơ “Biển vắng” của Trịnh Thanh Sơn có tám câu, có lẽ chỉ hai câu đầu là mang tâm trạng nhớ mong, chờ đợi rõ nhất. Sang câu thứ ba, tình trạng chờ đợi không còn nữa, thay vào đó là sự thất vọng. Có thể nói, sự thất vọng đã lên tới điểm đỉnh. Chàng trai nọ ngồi chết lặng trên cát: “Anh ngồi im chìm chiếc bóng”. “Chiếc bóng” của anh khi còn ánh chiều tà thì còn in trên mặt biển, nhưng  đến lúc hoàng hôn đã tàn thì bóng cũng chìm xuống đáy đại dương. Còn “bóng” của người anh đợi, anh chờ thì cũng ẩn trong không gian mênh mông. Tư thế “ ngồi im”là tư thế “mạc niệm” sự hi vọng. Sang câu thứ tư, tình huống như có vẻ chùng lại. Người cô đơn tìm phương án giải tỏa: “Chén này biển với mình thôi”. Ở đây ta nhận ra cái tính kế thừa của thơ ca truyền thống. Phạm Thái xưa khi mất Quỳnh Như cũng dùng rượu rót vào cái khoảng trống vắng, với cái triết lý: “Sống ở nhân gian đánh chén nhè…”. Đó cũng là một cách giải tỏa.

Bài học cá nhân và công lý


[Vào lúc : 12:03 - 06/08/2011 | Chuyện mục : Tác phẩm của đồng nghiệp]
Nghe tin có thầy Sa-rôn từ tận Hy Lạp đến thành phố Tân Hải để dạy học, nhiều người cấp tiến khá giả trong thành phố đã dẫn con đến để xin học thầy. Lớp học đã khai giảng được vài tuần, thì mới thấy chị kia kéo con đến xin học. “Lớp học khai giảng đã lâu, sao bây giờ chị mới cho con tới?” – Thầy Sa-rôn hỏi bằng tiếng bản địa lơ lớ. “Dạ, thưa thầy đáng kính, con cũng định mang cháu đến học ngay từ đầu, nhưng cứ lưỡng lự mãi, vì cháu nhà con quá đần, sợ nó không theo kịp trường Tây. Nhưng nghĩ lại, nó đần mới cần đi học. Vì thế con mới nhất quyết đem cháu đến đây để gửi gắm thầy”. - Chị nghĩ thế là phải. Thế cháu tên gì? - Dạ cháu tên Ngu Lòi Tĩ… Xin lỗi thầy, cháu ở nhà được chiều nên hư lắm , nếu nó có làm gì quấy, xin thầy lượng thứ, và cứ phạt roi cháu nhiều vào. - Ở đây, tôi không bao giờ dùng roi! - Vậy thầy dùng gì để khép bọn trẻ vào kỷ cương? - Tôi dùng nguyên tắc! –Thầy Sa-rôn đưa tay về phía đứa trẻ. – Nào em hãy lại đây, mà không nên đặt tên em là Ngu Lòi Tĩ, thầy sẽ bỏ chữ Ngu đi, còn hai chữ sau đổi thành Lôi Tĩnh, em thấy thế nào? - Vâng! – Đứa trẻ nhảy lên. – Lôi Tĩnh cái tên hay quá.

Những năm 70 thế kỷ 20, khi đất nước đang chiến tranh, thơ của Lý Phương Liên được coi là một hiện tượng văn học thúc đẩy niềm tin cho người ra trận. Nhiều bài thơ của chị được in trên báo Nhân Dân, báo Lao Động, báo Văn Nghệ… nhiều chiến sĩ ngoài mặt trận chuyền tay nhau đọc những bài: “Ca bình minh”, “Em mơ có một phiên tòa”, “Ngã ba”, “Thư gửi người bạn gái Mỹ”… “Ca bình minh” được phổ nhạc, được hát trên các sân khấu của những người lao động, trên sàn diễn các nhà văn hóa, bài ca ấy luôn được phát trên làn sóng đài phát thanh tiếng nói Việt Nam. Lớp lớp thanh niên ra chiến trường, trong ba lô là cuốn sổ tay chép thơ chị. Có cuốn sổ tay xém lửa bom đạn chiến tranh nhưng bài thơ chép trong đó còn nguyên vẹn, tươi rói, tiếp thêm nghị lực và niềm tin cho những chiến sĩ chiến đấu và chiến thắng. Còn giới nghiên cứu thơ ngày đó đã dành cho chị một sự trọng thị, với lời thẩm định quý như vàng cho một người mới cầm bút: “Một bông hoa vừa nở đã ngát hương…” (Báo Nhân Dân, năm 1970). Thơ Lý Phương Liên đi vào tình cảm người đọc tự nhiên bằng bản sắc riêng, cụ thể, khá sinh động, không trộn lẫn với những người khác mà rất gần gũi với người thưởng thức. Từ những sự việc tưởng như bình thường, chị đã nâng tầm thành cảm xúc thơ trong sáng đạt đến ý nghĩ rộng lớn của đời sống…

Hoa Lãng Thanh


[Vào lúc : 15:35 - 29/07/2011 | Chuyện mục : Tác phẩm của đồng nghiệp]
Tác giả Từ Khôi tâm sự: “Truyện ngắn này được viết "phóng tác từ cuộc đời thực của Lãng Thanh cách đây đã mấy năm. Tôi cứ đinh ninh rằng nó sẽ ngủ yên trong máy tính. Ai dè, một số sự việc vui buồn lại diễn ra. Vui vì thơ Lãng Thanh đã lan toả nhiều nơi, nhiều giới. Thơ Lãng Thanh vốn đã "hữu xạ" lại thêm Giải B của Hội Nhà văn (không giải A) lại càng thêm lan toả. Lại buồn vì có người muốn "tầm gửi" vào thơ Lãng Thanh để mong được vào Hội, được nổi tiếng vô tình quên đi công lao của nhiều bạn bè tận tâm tận lực khác với Lãng Thanh (Tôi trân trọng nhiều người bạn thân khác của Lãng Thanh đã âm thầm chắt chiu công sức, tiền của để in và quảng bá tập thơ của Lãng Thanh nhưng lại không "đánh bóng" mình) Và còn một số chuyện buồn khác mà tôi chưa muốn nêu ra. Vậy là tôi lần mở các tệp thư mục và đọc lại truyện ngắn này. Đọc xong, tôi quyết định gửi đi chia sẻ với mọi người”

Côn Đảo trong xanh nắng dọi
Bao nhiêu sóng nối về ký ức
Bao nhiêu sóng lênh đênh vọng lên tiếng gọi
Ở lòng nước sâu đá dội
Sóng hãi hùng quên đếm tháng năm rơi

Nguyễn Phan Quế Mai tâm sự: Chiến tranh đã lùi xa ba mươi sáu năm. Vậy mà khi tôi về Hà Tĩnh, quê hương của mười cô gái Ngã ba Đồng Lộc, thấy xót lòng khi chứng kiến quá nhiều người phụ nữ phải bỏ quê, bỏ con cái tha phương kiếm sống. Tôi gặp một người phụ nữ trên 50 tuổi, trên tay đang cầm quyển hộ chiếu để sang Đài Loan làm giúp việc gia đình. Hai đứa con của chị khóc lóc van xin mẹ đừng đi. Buổi chiều hôm đó, tôi thắp hương tại Ngã ba Đồng Lộc, tự cảm thấy mình có lỗi trước sự hy sinh của những người đi trước. Tôi viết hai bài thơ “Hai nẻo trời và đất“ và “Đồng Lộc“ từ những trải nghiệm kể trên. Ngày thương binh liệt sĩ năm nay, khi thắp hương tưởng nhớ đến sự hy sinh của các liệt sĩ, tôi cũng muốn thắp lên hy vọng rằng những người ở lại sẽ làm nhiều hơn nữa để hài cốt của các liệt sĩ được đoàn tụ cùng gia đình, để nỗi đau chiến tranh được xoa dịu, và để thế hệ trẻ luôn ghi nhớ và trân trọng rằng hòa bình đã được đổi bằng bao máu xương của những người đi trước.

Với mọi người, em tôi
Không còn tên còn tuổi
Đài liệt sĩ vô danh
Nấm mồ chung cỏ xanh.
Nhưng riêng tôi vẫn gặp
Giữa biển xa đèo cao
Trên bao gương mặt trẻ
Đứa em trai thủa nào.


Ba sáu năm sau trở về Buôn Ma Thuột
Vợ bạn tôi vẫn lặng lẽ thờ chồng
Không con cháu, một mình một bóng
Bữa cơm nào cũng chống đũa chờ mong.
Tôi thắp nén nhang trên bàn thờ viếng bạn
Bạn nhìn tôi dưới vành mũ tai bèo


Người dân chài miền biển
Giọt mồ hôi nhễu ra đốt cháy tờ giấy bóng
Từ trong sâu thẳm tâm hồn họ
Có một con sóng ngày xưa vỗ vào bồi đắp mãi
Như nhịp võng tre
Họ ném nhúm rau con cái họ vào biển thẳm

NGUYỄN NGỌC PHÚ Da Diết Tiếng Đồng


[Vào lúc : 19:01 - 16/07/2011 | Chuyện mục : Tác phẩm của đồng nghiệp]
Có một dạo trước khi bước vào nghề văn, trước khi đi học viết văn, tôi một thời lang thang như một gã trắc ẩn ham chơi với chiếc máy ảnh Liên Xô Ze-nhit cũ kỹ để chụp ảnh chân dung của những người già phóng to. Ảnh đen trắng cớ 18x 24cm lồng trong khung kính treo trang trọng trong nhà, và khi đã trở thành người thiên cổ thì tấm ảnh đó quý giá biết nhường nào dược đặt trên bàn thờ nghiêm trang nghi ngút khói hương. Tôi còn nhớ một bà mẹ già sống độc thân đã đi chợ bán cả yến lúa để mong có tấm ảnh lưu lại. Thế nhưng cũng có những nhà của ăn của để đàng hoàng, con cái sung túc đến tấm ảnh của bố mẹ mất đi cũng không có, phải lấy chứng minh nhân dân ra chụp lại. Khi về buồng tối rửa phim phóng to tôi không làm sao xóa được cái dấu triện nổi ẩn vào ảnh trong chứng minh thư, càng phóng to càng cộm lên nhức mắt. Tôi còn nhớ cái cảnh vui vẻ hồn nhiên như con trẻ của các cụ tóc bạc răng long, còng cả lưng, giục nhau, mượn nhau áo mới, khăn mới và tất cả đều bỏm bẻm nhai trầu

Phân trang 6/31 Trang đầu Trang trước 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Trang sau Trang cuối [ Kiểu hiển thị Trích dẫn | Liệt kê ]

Những bài mới nhất