Thế kỷ trước, ở phố huyện Cẩm Giàng, Hải Dương, trong gia tộc Nguyễn Tường có hai người phụ nữ được nhắc nhiều trong đời sống văn học. Chồng, con say mê hoạt động văn chương, xã hội… còn họ lùi vào phía sau với thiên chức làm mẹ, làm vợ. Danh vọng, thành công của những người đàn ông đó có một phần ở sự tảo tần của họ. Hai người đàn bà đứng sau Tự Lực Văn Đoàn có tên là Lê Thị Sâm và Phạm Thị Nguyên!
Bây giờ Hòa Vang đã cùng bạn thơ Nguyễn Lương Ngọc "Người đồng hành vượt trước" rong ruổi ở nơi vĩnh hằng để lại chốn dương thế còn quá nhiều phiền toái. Vâng cõi vô thường này, chúng ta chỉ là hạt bụi nhỏ nhoi mà thôi, nhưng trong một trò chơi ngỡ như vô tăm tích của sáng tạo, trong hành trình của kiếp người, chúng ta cũng nguyện làm một chút gì đó để sáng lên "hạt bụi người lấp lánh" như một nhà văn đã từng nói
Sinh ra ở Cẩm Khê, Phú Thọ, trung du đối với Hà Văn Thể là đồi bát úp, là những con trâu lăn trong chiều tím ngắt, là dòng sông Bứa quê nhà chảy mải miết trong thơ anh. Tôi đã ngồi trong ngôi nhà lá cọ sinh ra anh bên dòng sông Bứa ấy ở xã Đồng Lương, ngôi nhà vườn rộng, nhiều cây xanh neo bên triền đê thâm thấp có thể bị nước lũ tràn qua bất cứ lúc nào. Chẳng biết vì sao khi về tận Thủ đô cạnh Hồ Tây, nhà thơ Hà Văn Thể cũng làm nhà mình neo bên dòng sông Hồng mùa mưa nào cũng lăm le liếm vào đê. Một đồng dạng phối cảnh với dòng sông Bứa quê nhà. Thật khó giải thích "điền trạch" của một con người.
Nhà thơ Trần Thế Tuyển đọc tập thơ “Trăng” với cảm nhận ban đầu: “Tôi đã biết đến một Bích Nguyệt với những bức tranh bước ra từ tiềm thức, mang màu sắc trầm ấm, với nắng hanh vàng của mùa thu, màu nâu của đất và màu hồi sinh của phù sa...Tôi đã biết đến một Bích Nguyệt, vượt qua những tháng ngày cơ cực với tuổi thơ… Và, tôi cũng đã biết đến một Bích Nguyệt, nằm đó trên giường bệnh, từ đôi mắt thẳm sâu mang gam màu của đất đai, cây cỏ, của chút ánh sáng le lói cuối chiều thu, của tiếng gió hú trên đồi thông Đà Lạt... để hồi tưởng, để lắng nghe âm thanh cuộc sống, cả tiếng bàn bạc, tiếc thương của những người thân yêu chuẩn bị cho chị một chuyến đi xa về nơi cuối đất, cùng trời...”
Văn học là một khái niệm xa xưa nhưng luôn bị ngộ nhận. Một tập truyện trình bày, kể lể, phản ánh thành tích… đã được xem là văn học chưa? Một bức thư của người này tỏ tình với người kia chưa phải là văn học. Song một bức thư tình trong quyển tiểu thuyết lại được nhìn nhận là văn học?!Vào thế kỷ 19, nhà nho Nguyễn Tư Giản đã nói: "Bàn về văn của văn nhân, có văn nghĩa lý, có văn chính sự, có văn từ chương, mà cốt yếu là ở thần, ở khí, ở thế, ở cách… Người nào gồm đủ các mặt trên, đấy là nhà văn ưu tú nhất, người nào tuy cũng đủ các mặt trên nhưng hơi yếu thì thuộc loại thứ hai, còn người nào chỉ xuất sắc về một vài mặt thì lại đứng ở hạng sau nữa.”
Trên báo Đất Việt có bài viết về những nhà văn, nhà thơ cao niên gồm Tô Hoài, Tế Hanh, Hoàng Cầm và Hữu Loan. Đây là một sự trân trọng đối với các bậc lão thành, lethieunhon.com xin copy về làm tư liệu. Tuy nhiên, so với bản gốc trên báo Đất Việt, chúng tôi xin mạn phép sửa hai chi tiết, thứ nhất cuốn “Ba người khác” in năm 2006 chứ không phải 1996, thứ hai bài thơ “Màu tím hoa sim” được mua bản quyền năm 2004 chứ không phải 1994!
Nữ tác giả viết những câu chuyện trinh thám – kinh dị thú nhận: “Tôi là người khá sợ ma. Cũng giống như nhiều người khác thôi, nhưng đó không phải là điều khiến tôi viết truyện “nhát người”. Không hiểu sao trong đầu tôi luôn có sẵn rất nhiều cốt truyện kinh dị. Trí tưởng tượng của tôi ở lĩnh vực này có lẽ là không giới hạn. Rất nhiều người hỏi tôi: đã bao giờ đến vùng đất ấy, đã bao giờ nhìn thấy loài hoa màu đỏ như thế chưa? Nói thật, tôi chỉ tả nó theo kiểu văn chương, cũng như những khuôn mặt đau đớn, méo mó đến sợ hãi trong truyện, đó là do người đọc tưởng tượng, không phải là hình ảnh mà tôi đưa vào.”
Khi trao giải Nobel Văn học năm 1994 cho nhà văn Nhật Kenzaburo Oe, Viện Hàn Lâm Thụy Điển nhận định: “đó là sự sáng tạo thế giới kỳ ảo, hội tụ cuộc sống với huyền thoại, phản ánh rất cô đúc những hình tượng bi thương về thực trạng hiện sinh trên hành tinh…”. Kenzaburo Oe tâm sự: “Người ta trách cứ tôi tại sao luôn đề cập mãi một vấn đề. Tôi làm gì được cho con tôi? Chúng ta làm gì cho hành trình mai sau? Tôi muốn sáng tạo văn học, để trả lời hai câu hỏi này.”
Tôi biết Chính vào lúc gã đã khá nổi tiếng với hàng loạt kịch bản phim mà có thể nói cho đến nay ít có tác giả viết kịch bản phim nào ở xứ ta bộc lộ được miếng và ý đồ một cách có nghề như gã…Chính cũng từng giữ một vị trí "oách" ở một tạp chí hình như dư luận gì đấy nhưng ngồi chưa nóng chỗ thì gã lại trở về thân phận của tay nhà văn chân trắng. Khi tôi gặp gã thì Chính đã xưng xưng nói một cách khoái chí rằng: "Bây giờ tao là nghệ sĩ tự do".
Trần Tung là con Trần Liễu, anh Trần Hưng Đạo, anh vợ vua Trần Thánh Tông, bác Trần Nhân Tông. Trần Nhân Tông chịu nhiều ảnh hưởng Thiền học của ông bác này cho nên tư tưởng Thiền của phái Trúc Lâm ít nhiều có chịu ảnh hưởng trực tiếp của Trần Tung. Trần Tung tham gia kháng chiến chống Nguyên Mông lần hai (1285) và lần ba (1287-1288) lập nhiều công tich nhưng sử sách ít nói tới như các nhân vật tướng lĩnh tôn thất khác của nhà Trần. Chỉ biết sau kháng chiến ông có nhận chức Tiết độ sứ, cai quản vùng Thái Bình một thời gian ngắn rồi lui về tu Phật.





